Dạo gần đây ở Sài Gòn xuất hiện nhóm thanh niên cao từ 1m7 trở lên đến nhiều sân tập võ để xin đấu giao lưu. Có nghi vấn liên quan đến chuyện tay chuẩn võ sư ở nước ngoài từng về Việt Nam để thách đấu...
Showing posts with label Sài Gòn. Show all posts
Showing posts with label Sài Gòn. Show all posts
Thursday, August 30, 2018
Thách đấu
Dạo gần đây ở Sài Gòn xuất hiện nhóm thanh niên cao từ 1m7 trở lên đến nhiều sân tập võ để xin đấu giao lưu. Có nghi vấn liên quan đến chuyện tay chuẩn võ sư ở nước ngoài từng về Việt Nam để thách đấu...
Ban Tuyên giáo Thành ủy TP.HCM kêu gọi người dân đối thoại thay cho biểu tình
Trong ngày 28-8, nhiều nơi ở Sài Gòn được nhân viên hành chánh của phường đến tận nhà gửi tờ rơi có tựa bằng chữ in đậm “Hãy cảnh giác và đấu tranh với mọi âm mưu phá hoại”. Ban Tuyên giáo Thành ủy TP.HCM là nơi phát hành tờ rơi này.
Nội dung tờ rơi gồm 4 trang giấy khổ A4, xoay quanh khuyến cáo người dân tỉnh táo trước những kích động biểu tình, cùng lời kêu gọi bạo động rải truyền đơn qua flycam, đánh bom xăng...
Đáng chú ý là cuối trang 4, trước khi kết thúc bằng 4 câu khẩu hiệu, thì tờ rơi này viết: “Mọi người dân đều có quyền bày tỏ ý kiến của mình trong khuôn khổ pháp luật. Mọi ý kiến của người dân luôn được lãnh đạo chính quyền các cấp lắng nghe, tiếp thu. Như dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm, đồng chí Bí thư Thành ủy, đồng chí Chủ tịch Hội đồng nhân dân Thành phố đã trực tiếp nhiều lần đối thoại, lắng nghe ý kiến của người dân và đang trong quá trình xử lý theo quy định pháp luật”.
Cá nhân người viết ủng hộ đối thoại, và nếu có biểu tình, thì đó là biểu tình ôn hòa được Hiến pháp 2013 và Bộ Luật Hình sự 2015 bảo hộ.
Câu hỏi đặt ra với những người chịu trách nhiệm phát hành tờ rơi - còn được gọi là “Tài liệu tuyên truyền tại khu phố, ấp, tổ dân phố, tổ nhân dân”, rằng có đúng việc người dân luôn được “đồng chí Bí thư Thành ủy, đồng chí Chủ tịch Hội đồng nhân dân Thành phố” lắng nghe?
Theo ngôn ngữ dân dã, thì quả tình “nói không biết ngượng”. Ngay sáng 28-8, theo lệnh triệu tập của Tòa án Nhân dân quận 2, TP.HCM, bên khởi kiện là vợ chồng ông Lê Văn Lung và bà Phùng Thị Cúc cùng hàng chục cư dân Thủ Thiêm đã có mặt tại tòa để dự phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hành chính “Khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính của Chủ tịch UBND quận 2, UBND quận 2 và bồi thường thiệt hại do ban hành quyết định hành chính trái pháp luật” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2018/QĐXXST-HC ngày 7-8-2018.
Nhiều người dân trước đây sinh sống tại Thủ Thiêm cũng tới dự phiên tòa. Tuy nhiên, dù giấy triệu tập ghi 8g phiên tòa bắt đầu nhưng cho đến 9g20, Hội đồng xét xử vẫn chưa vào làm việc.
Ông Lê Văn Lung cho biết, đã 5 -6 năm kể từ ngày nộp đơn, các lần mời lên đối chất phía bị đơn là UBND quận 2 cũng đều vắng mặt. Ông Lung kiện vì căn nhà của ông không nằm trong phạm vi quy hoạch xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm do cơ quan Nhà nước phê duyệt, song ông chủ tịch quận 2 vẫn ký lệnh cưỡng chế thu hồi.
Đến 9g30, có hai nhân viên (một nam, một nữ) của tòa án ra gặp dân và nói rằng phiên tòa đã bị hoãn với lý do hội thẩm nhân dân vắng mặt, và không có hội thẩm nhân dân dự khuyết thay thế. Ngoài ra, bên bị khởi kiện là UBND phường Bình An, người bảo vệ quyền và lợi ích của Chủ tịch quận 2, UBND quận 2 cũng vắng mặt không có lý do.
Sau khi nghe đại diện Tòa án Nhân dân quận 2 công bố quyết định hoãn phiên tòa, bà con cư dân Thủ Thiêm đã phản đối và cho rằng “lại tiếp tục không tôn trọng người dân...”.
Nhiều phóng viên chờ đợi cùng người dân Thủ Thiêm đã gọi điện cho ông Nguyễn Phước Hưng - Chủ tịch UBND quận 2, thì ông này nói rằng (đại ý): “Phiên tòa sáng nay không xét xử (hoãn), mọi chuyện phải chờ kết luận của Thủ tướng Chính phủ. Mọi chuyện bà con nên chờ kết luận của Thủ tướng Chính phủ”.
Hơn một tháng trước, chiều 26-7, Tổ đại biểu Hội đồng Nhân dân TP.HCM có buổi tiếp xúc cử tri quận 2. Buổi tiếp xúc chỉ có mặt duy nhất một đại biểu là ông Nguyễn Hồng Hà, phó Trưởng Ban Văn hóa - Xã hội Hội đồng Nhân dân TP.HCM. Hai đại biểu khác là ông Nguyễn Văn Hiếu, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy TP.HCM và bà Nguyễn Thị Ngọc Hương, Chủ tịch Liên đoàn Lao động quận 2, xin phép vắng mặt.
Nhiều cử tri đã bức xúc bỏ về, vì “người dân Thủ Thiêm đã khổ gần 20 năm nay rồi; một số đại biểu đã ứng cử ở đây nhiều khóa nhưng vẫn không giải quyết tâm tư nguyện vọng của bà con nên người dân không còn niềm tin”.
Vậy đó, nếu đúng “Tài liệu tuyên truyền tại khu phố, ấp, tổ dân phố, tổ nhân dân” là do Ban Tuyên giáo Thành ủy soạn và phát hành, coi như họ đang cố tình chơi khăm ông Bí thư Thành ủy và bà Chủ tịch Hội đồng Nhân dân TP.HCM.
Friday, November 13, 2015
Hôm nay, Ông đã về...
Vào khoảng 9:00 tối ngày 13/11/2015 (giờ Cali), nhạc sĩ Anh Bằng đã thanh thản ra đi về nước Chúa, trước sự tiễn đưa đầy thương tiếc của gia đình, con cháu tại tự gia thành phố Orange Nam California, hưởng thọ 89 tuổi.
Nhớ Ông...
Một chia sẻ của Hoàng:
Mặc dù Anh Bằng phổ nhạc bài Khúc Thụy Du dựa theo bài thơ cùng tên của tác giả Du Tử Lê nhưng có thể nhận thấy rằng chủ điểm của bài hát Khúc Thụy Du và bài thơ Khúc Thụy Du là hoàn toàn khác nhau.
Có nhiều tranh cãi xoay quanh vấn đề này, nhưng ở đây Hoàng muốn đề cập đến một khía cạnh khác : Khúc Thụy Du của Anh Bằng (Hoàng tạm gọi như thế) thật day dứt mà nhẹ nhàng trong khi Khúc Thụy Du của Du Tử Lê lại là một trong những tiếng thét gào đau thương thời loạn.
Và như vậy, bài hát Khúc Thụy Du và bài thơ Khúc Thụy Du tuy hai mà một, tuy một mà hai...
Còn đây là lời trần tình của Du Tử Lê về tác phẩm Khúc Thụy Du.
Khi biến cố Tết Mậu Thân, 1968 xẩy ra, đó cũng là lúc cuộc tình của tôi và một nữ sinh viên trường Dược, ở Saigòn cũng khởi đầu.
Đầu tháng 3-1968, tôi bị chỉ định đi làm phóng sự một tiểu đoàn TQLC đang giải toả khu Ngã tư Bảy Hiền.
Lúc đó, cả thành phố Saigòn vẫn còn giới nghiêm. Trên đường đi, từ cục TLC ở đầu đường Hồng Thập Tự, gần cầu Thị Nghè tới khu Ngã tư Bảy Hiền, đường xá vắng tanh. Khi gần tới ngã tư Bảy Hiền, ngoại ô Saigòn, tôi thấy trên đường đi còn khá nhiều xác chết. Đó là những xác chết không toàn thây, bị cháy nám; rất khó nhận biết những xác chết là dân chúng, binh sĩ hay bộ đội CS.
Khi tới gần khu ngã tư Bảy Hiền, dù không muốn nhìn, tôi vẫn thấy rất nhiều mảnh thịt người vương vãi hai bên đường. Có cả những cánh tay văng, vướng trên giây điện…Rất nhiều căn nhà trúng bị bom, đạn. Đổ nát. Tôi cũng thấy những con chó vô chủ gậm chân, tay xương người bên lề đường… Tất cả những hình ảnh ghê rợn này đập vào mắt tôi, cùng mùi hôi thối tẩm, loang trong không khí.
Khi tới vùng giao tranh, tôi gặp người trách nhiệm cuộc hành quân giải toả khu chợ Bảy Hiền. Đó là thiếu tá Nguyễn Kim Tiền. Anh vốn là một bạn học thời trung học của tôi. Tiền cho biết, đơn vị của anh đang ở giai đoạn cực kỳ nguy hiểm. hai bên rình rập nhau, như trò cút bắt, để tranh giành từng gian hàng, từng ngôi nhà… Anh nói tôi phải rời khỏi khu chợ, lập tức. Vì anh không thể bảo đảm sinh mạng cho tôi, dù là bạn cũ….
Trên đường về, cái khung cảnh hoang tàn, đổ nát với xương thịt người vung vãi khắp nơi, cùng với mùi người chết sình thối…khiến tôi muốn nôn oẹ, một lần nữa lại gây chấn động dữ dội trong tôi…
Giữa tháng 3 – 1968, nhà văn Trần Phong Giao, Thư ký toà soạn Tạp chí Văn, gọi điện thoại vào phòng Báo Chí, cục TLC, hỏi tôi có thể viết cái gì đó, cho Văn số tục bản.
Gọi là “tục bản” bởi vì sau số Xuân, khi biến cố mồng 1 Tết xẩy ra, báo Văn ngưng xuất bản. Lý do, các nhà phát hành không hoạt động. Đường về miền tây cũng như đường ra miền Trung bị gián đoạn. Saigòn giới nghiêm. Tuy nhiên, ông nói, hy vọng ít ngày nữa, giao thông sẽ trở lại - - Thêm nữa, không thể để Văn đình bản quá lâu.
Sau khi nhận lời đưa bài cho Trần Phong Giao, tôi mới giật mình, hốt hoảng.
Tôi nghĩ, giữa tình cảnh ấy, tôi không thể đưa ông một bài thơ tình, hay một chuyện tình. Mặc dù thơ tình hay chuyện tình là lãnh vực của tôi thuở ấy. Nhưng, tôi thấy, nếu tiếp tục con đường quen thuộc kia, tôi sẽ không chỉ không phải với người đọc mà, tôi còn không phải với hàng ngàn, hàng vạn linh hồn đồng bào, những người chết tức tưởi, oan khiên vì chiến tranh nữa…
Cuối cùng, gần hạn kỳ phải đưa bài, nhớ lại những giờ phút ở ngã tư Bảy Hiền, tôi ngồi xuống viết bài thơ ghi lại những gì mục kích trên đường đi.
Viết xong, tôi không tìm được một nhan đề gần, sát với nội dung!
Bài thơ dài trên 100 câu. Nhưng khi Văn đem đi kiểm duyệt, bộ Thông Tin đục bỏ của tôi gần 1/ 3 nửa bài thơ.
Thời đó, tôi viết tay, không có bản phụ, nên, sau này khi gom lại để in thành sách, tôi không có một bản nào khác, ngoài bản in trên báo Văn (đã kiểm duyệt.)
Tuy còn mấy chục câu thôi, nhưng nội dung bài thơ, từ đầu đến cuối, vẫn là một bài thơ nói về thảm cảnh chiến tranh. Người phụ trách phần kiểm duyệt vẫn để lại cho bài thở của tôi những câu cực kỳ “phản chiến” như: “…Ngước lên nhìn huyệt lộ - bày quả rỉa xác người - (của tươi đời nhượng lại) - bữa ăn nào ngon hơn – làm sao tôi nói được…” Hoặc: “…Trên xác người chưa rữa – trên thịt người chưa tan – trên cánh tay chó gậm – trên chiếc đầu lợn tha…” vân vân…
Nói cách khác, tình yêu chỉ là phần phụ; với những câu hỏi được đặt ra cho những người yêu nhau, giữa khung cảnh chết chóc kia, là gì? Nếu không phải là những tuyệt vọng cùng, tất cả sự vô nghĩa chói gắt của kiếp người?
Như đã nói, thời gian ra đời của bài thơ cũng là khởi đầu của cuộc tình giữa tôi và một sinh viên đại học Dược…Tôi lấy một chữ lót trong tên gọi của người con gái này, cộng với chữ đầu, bút hiệu của tôi, làm thành nhan đề bài thơ. Nó như một cộng nghiệp hay chung một tai hoạ, một tuyệt lộ.
Bài thơ ấy, sau đó tôi cho in trong tuyển tập “Thơ Du Tử Lê (1967-1972).
Cuối năm, tập thơ được trao giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc, bộ môn thi ca, 973.
Năm 1983, tôi cho tái bản cuốn thơ này sau khi được một độc giả du học tại Mỹ trước năm 1975, cho lại. Cô nói, tôi phải hứa in lại và dành bản đầu tiên cho cô…
Sau đấy, một buổi tối, nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi ở quán Café Tay Trái (toạ lạc ngay ngã tư đường Trask và Fairview.) Ông nói, ông mới phổ nhạc bài “Khúc Thuỵ Du.” Ông cho tôi quyền chọn người hát. Ông nhấn mạnh:
“Tôi có thể chỉ cho người đó hát…”
Thời gian đó, trong số bằng hữu giúp tôi điều hành Café Tay Trái, có nhạc sĩ Việt Dzũng. Lúc nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi, cũng là lúc Việt Dzũng có mặt; đang chuẩn bị cho chương trình ca nhạc buổi tối. Tôi giới thiệu hai người với nhau.
Khi ca khúc “Khúc Thuỵ Du” ra đời dạng casette, với tiếng hát của Việt Dzũng, tôi mới biết, nhạc sĩ Anh Bằng chỉ lọc, lựa một số câu thơ liên quan tới tình yêu mà, không lấy một câu thơ nào nói một cách cụ thể về chiến tranh, chết chóc… Chết chóc hay chiến tranh được hiểu ngầm, như một thứ background mờ nhạt.
Từ đó đến nay, thỉnh thoảng vẫn còn có người lên tiếng phản đối sự giản lược nội dung bài thơ của tôi vào một khía cạnh rất phụ: Khía cạnh tình yêu trong ca khúc “Khúc Thuỵ Du”…
Nhưng, hôm nay, sau mấy chục năm nhìn lại, tôi thấy, ông cũng có cái lý của ông…
KHÚC THỤY DU
1.
Như con chim bói cá
Trên cọc nhọn trăm năm
Tôi tìm đời đánh mất
Trong vũng nước cuộc đời
Như con chim bói cá
Tôi thường ngừng cánh bay
Ngước nhìn lên huyệt lộ
Bầy quạ rỉa xác người
(Của tươi đời nhượng lại)
Bữa ăn nào ngon hơn
Làm sao tôi nói được
Như con chim bói cá
Tôi lặn sâu trong bùn
Hoài công tìm ý nghĩa
Cho cảnh tình hôm nay
Trên xác người chưa rữa
Trên thịt người chưa tan
Trên cánh tay chó gậm
Trên chiếc đầu lợn tha
Tôi sống như người mù
Tôi sống như người điên
Tôi làm chim bói cá
Lặn tìm vuông đời mình
Trên mặt đất nhiên lặng
Không tăm nào sủi lên
Đời sống như thân nấm
Mỗi ngày một lùn đi
Tâm hồn ta cọc lại
Ai làm người như tôi?
2.
Mịn màng như nỗi chết
Hoang đường như tuổi thơ
Chưa một lần hé mở
Trên ngọn cờ không bay
Đôi mắt nàng không khép
Bàn tay nàng không thưa
Lọn tóc nàng đêm tối
Khư khư ôm tình dài
Ngực tôi đầy nắng lửa
Hãy nói về cuộc đời
Tôi còn gì để sống
Hãy nói về cuộc đời
Khi tôi không còn nữa
Sẽ mang được những gì
Về bên kia thế giới
Thụy ơi và Thụy ơi
Tôi làm ma không đầu
Tôi làm ma không bụng
Tôi chỉ còn đôi chân
Hay chỉ còn đôi tay
Sờ soạng tìm thi thể
Quờ quạng tìm trái tim
Lẫn tan cùng vỏ đạn
Dính văng cùng mảnh bom
Thụy ơi và Thụy ơi
Đừng bao giờ em hỏi
Vì sao mình yêu nhau
Vì sao môi anh nóng
Vì sao tay anh lạnh
Vì sao thân anh run
Vì sao chân không vững
Vì sao anh van em
Hãy cho anh được thở
Bằng ngực em rũ buồn
Hãy cho anh được ôm
Em, ngang bằng sự chết
Tình yêu như ngọn dao
Anh đâm mình, lút cán
Thụy ơi và Thụy ơi
Không còn gì có nghĩa
Ngoài tình em tình em
Đã ướt đầm thân thể
Anh ru anh ngủ mùi
Đợi một giờ linh hiển.
(03-68)
Có nhiều tranh cãi xoay quanh vấn đề này, nhưng ở đây Hoàng muốn đề cập đến một khía cạnh khác : Khúc Thụy Du của Anh Bằng (Hoàng tạm gọi như thế) thật day dứt mà nhẹ nhàng trong khi Khúc Thụy Du của Du Tử Lê lại là một trong những tiếng thét gào đau thương thời loạn.
Và như vậy, bài hát Khúc Thụy Du và bài thơ Khúc Thụy Du tuy hai mà một, tuy một mà hai...
* * *
Khi biến cố Tết Mậu Thân, 1968 xẩy ra, đó cũng là lúc cuộc tình của tôi và một nữ sinh viên trường Dược, ở Saigòn cũng khởi đầu.
Đầu tháng 3-1968, tôi bị chỉ định đi làm phóng sự một tiểu đoàn TQLC đang giải toả khu Ngã tư Bảy Hiền.
Lúc đó, cả thành phố Saigòn vẫn còn giới nghiêm. Trên đường đi, từ cục TLC ở đầu đường Hồng Thập Tự, gần cầu Thị Nghè tới khu Ngã tư Bảy Hiền, đường xá vắng tanh. Khi gần tới ngã tư Bảy Hiền, ngoại ô Saigòn, tôi thấy trên đường đi còn khá nhiều xác chết. Đó là những xác chết không toàn thây, bị cháy nám; rất khó nhận biết những xác chết là dân chúng, binh sĩ hay bộ đội CS.
Khi tới gần khu ngã tư Bảy Hiền, dù không muốn nhìn, tôi vẫn thấy rất nhiều mảnh thịt người vương vãi hai bên đường. Có cả những cánh tay văng, vướng trên giây điện…Rất nhiều căn nhà trúng bị bom, đạn. Đổ nát. Tôi cũng thấy những con chó vô chủ gậm chân, tay xương người bên lề đường… Tất cả những hình ảnh ghê rợn này đập vào mắt tôi, cùng mùi hôi thối tẩm, loang trong không khí.
Khi tới vùng giao tranh, tôi gặp người trách nhiệm cuộc hành quân giải toả khu chợ Bảy Hiền. Đó là thiếu tá Nguyễn Kim Tiền. Anh vốn là một bạn học thời trung học của tôi. Tiền cho biết, đơn vị của anh đang ở giai đoạn cực kỳ nguy hiểm. hai bên rình rập nhau, như trò cút bắt, để tranh giành từng gian hàng, từng ngôi nhà… Anh nói tôi phải rời khỏi khu chợ, lập tức. Vì anh không thể bảo đảm sinh mạng cho tôi, dù là bạn cũ….
Trên đường về, cái khung cảnh hoang tàn, đổ nát với xương thịt người vung vãi khắp nơi, cùng với mùi người chết sình thối…khiến tôi muốn nôn oẹ, một lần nữa lại gây chấn động dữ dội trong tôi…
Giữa tháng 3 – 1968, nhà văn Trần Phong Giao, Thư ký toà soạn Tạp chí Văn, gọi điện thoại vào phòng Báo Chí, cục TLC, hỏi tôi có thể viết cái gì đó, cho Văn số tục bản.
Gọi là “tục bản” bởi vì sau số Xuân, khi biến cố mồng 1 Tết xẩy ra, báo Văn ngưng xuất bản. Lý do, các nhà phát hành không hoạt động. Đường về miền tây cũng như đường ra miền Trung bị gián đoạn. Saigòn giới nghiêm. Tuy nhiên, ông nói, hy vọng ít ngày nữa, giao thông sẽ trở lại - - Thêm nữa, không thể để Văn đình bản quá lâu.
Sau khi nhận lời đưa bài cho Trần Phong Giao, tôi mới giật mình, hốt hoảng.
Tôi nghĩ, giữa tình cảnh ấy, tôi không thể đưa ông một bài thơ tình, hay một chuyện tình. Mặc dù thơ tình hay chuyện tình là lãnh vực của tôi thuở ấy. Nhưng, tôi thấy, nếu tiếp tục con đường quen thuộc kia, tôi sẽ không chỉ không phải với người đọc mà, tôi còn không phải với hàng ngàn, hàng vạn linh hồn đồng bào, những người chết tức tưởi, oan khiên vì chiến tranh nữa…
Cuối cùng, gần hạn kỳ phải đưa bài, nhớ lại những giờ phút ở ngã tư Bảy Hiền, tôi ngồi xuống viết bài thơ ghi lại những gì mục kích trên đường đi.
Viết xong, tôi không tìm được một nhan đề gần, sát với nội dung!
Bài thơ dài trên 100 câu. Nhưng khi Văn đem đi kiểm duyệt, bộ Thông Tin đục bỏ của tôi gần 1/ 3 nửa bài thơ.
Thời đó, tôi viết tay, không có bản phụ, nên, sau này khi gom lại để in thành sách, tôi không có một bản nào khác, ngoài bản in trên báo Văn (đã kiểm duyệt.)
Tuy còn mấy chục câu thôi, nhưng nội dung bài thơ, từ đầu đến cuối, vẫn là một bài thơ nói về thảm cảnh chiến tranh. Người phụ trách phần kiểm duyệt vẫn để lại cho bài thở của tôi những câu cực kỳ “phản chiến” như: “…Ngước lên nhìn huyệt lộ - bày quả rỉa xác người - (của tươi đời nhượng lại) - bữa ăn nào ngon hơn – làm sao tôi nói được…” Hoặc: “…Trên xác người chưa rữa – trên thịt người chưa tan – trên cánh tay chó gậm – trên chiếc đầu lợn tha…” vân vân…
Nói cách khác, tình yêu chỉ là phần phụ; với những câu hỏi được đặt ra cho những người yêu nhau, giữa khung cảnh chết chóc kia, là gì? Nếu không phải là những tuyệt vọng cùng, tất cả sự vô nghĩa chói gắt của kiếp người?
Như đã nói, thời gian ra đời của bài thơ cũng là khởi đầu của cuộc tình giữa tôi và một sinh viên đại học Dược…Tôi lấy một chữ lót trong tên gọi của người con gái này, cộng với chữ đầu, bút hiệu của tôi, làm thành nhan đề bài thơ. Nó như một cộng nghiệp hay chung một tai hoạ, một tuyệt lộ.
Bài thơ ấy, sau đó tôi cho in trong tuyển tập “Thơ Du Tử Lê (1967-1972).
Cuối năm, tập thơ được trao giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc, bộ môn thi ca, 973.
Năm 1983, tôi cho tái bản cuốn thơ này sau khi được một độc giả du học tại Mỹ trước năm 1975, cho lại. Cô nói, tôi phải hứa in lại và dành bản đầu tiên cho cô…
Sau đấy, một buổi tối, nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi ở quán Café Tay Trái (toạ lạc ngay ngã tư đường Trask và Fairview.) Ông nói, ông mới phổ nhạc bài “Khúc Thuỵ Du.” Ông cho tôi quyền chọn người hát. Ông nhấn mạnh:
“Tôi có thể chỉ cho người đó hát…”
Thời gian đó, trong số bằng hữu giúp tôi điều hành Café Tay Trái, có nhạc sĩ Việt Dzũng. Lúc nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi, cũng là lúc Việt Dzũng có mặt; đang chuẩn bị cho chương trình ca nhạc buổi tối. Tôi giới thiệu hai người với nhau.
Khi ca khúc “Khúc Thuỵ Du” ra đời dạng casette, với tiếng hát của Việt Dzũng, tôi mới biết, nhạc sĩ Anh Bằng chỉ lọc, lựa một số câu thơ liên quan tới tình yêu mà, không lấy một câu thơ nào nói một cách cụ thể về chiến tranh, chết chóc… Chết chóc hay chiến tranh được hiểu ngầm, như một thứ background mờ nhạt.
Từ đó đến nay, thỉnh thoảng vẫn còn có người lên tiếng phản đối sự giản lược nội dung bài thơ của tôi vào một khía cạnh rất phụ: Khía cạnh tình yêu trong ca khúc “Khúc Thuỵ Du”…
Nhưng, hôm nay, sau mấy chục năm nhìn lại, tôi thấy, ông cũng có cái lý của ông…
KHÚC THỤY DU
1.
Như con chim bói cá
Trên cọc nhọn trăm năm
Tôi tìm đời đánh mất
Trong vũng nước cuộc đời
Như con chim bói cá
Tôi thường ngừng cánh bay
Ngước nhìn lên huyệt lộ
Bầy quạ rỉa xác người
(Của tươi đời nhượng lại)
Bữa ăn nào ngon hơn
Làm sao tôi nói được
Như con chim bói cá
Tôi lặn sâu trong bùn
Hoài công tìm ý nghĩa
Cho cảnh tình hôm nay
Trên xác người chưa rữa
Trên thịt người chưa tan
Trên cánh tay chó gậm
Trên chiếc đầu lợn tha
Tôi sống như người mù
Tôi sống như người điên
Tôi làm chim bói cá
Lặn tìm vuông đời mình
Trên mặt đất nhiên lặng
Không tăm nào sủi lên
Đời sống như thân nấm
Mỗi ngày một lùn đi
Tâm hồn ta cọc lại
Ai làm người như tôi?
2.
Mịn màng như nỗi chết
Hoang đường như tuổi thơ
Chưa một lần hé mở
Trên ngọn cờ không bay
Đôi mắt nàng không khép
Bàn tay nàng không thưa
Lọn tóc nàng đêm tối
Khư khư ôm tình dài
Ngực tôi đầy nắng lửa
Hãy nói về cuộc đời
Tôi còn gì để sống
Hãy nói về cuộc đời
Khi tôi không còn nữa
Sẽ mang được những gì
Về bên kia thế giới
Thụy ơi và Thụy ơi
Tôi làm ma không đầu
Tôi làm ma không bụng
Tôi chỉ còn đôi chân
Hay chỉ còn đôi tay
Sờ soạng tìm thi thể
Quờ quạng tìm trái tim
Lẫn tan cùng vỏ đạn
Dính văng cùng mảnh bom
Thụy ơi và Thụy ơi
Đừng bao giờ em hỏi
Vì sao mình yêu nhau
Vì sao môi anh nóng
Vì sao tay anh lạnh
Vì sao thân anh run
Vì sao chân không vững
Vì sao anh van em
Hãy cho anh được thở
Bằng ngực em rũ buồn
Hãy cho anh được ôm
Em, ngang bằng sự chết
Tình yêu như ngọn dao
Anh đâm mình, lút cán
Thụy ơi và Thụy ơi
Không còn gì có nghĩa
Ngoài tình em tình em
Đã ướt đầm thân thể
Anh ru anh ngủ mùi
Đợi một giờ linh hiển.
(03-68)
Monday, August 17, 2015
Tùng chùa
Khoảng cuối thập niên 90, trong giới hắc đạo có truyền tay nhau cuốn bằng cassette không có tên, không rõ xuất xứ, thậm chí cả tên ca sỹ cũng không mấy ai biết.
Băng nhạc này ca sỹ hát trên nền nhạc guitar mộc mạc dưới dạng liên khúc, chất giọng miền Tây Nam Bộ, hơi ngọng, lời các bài hát được ca sỹ chế từ những bản nhạc vàng nổi tiếng một thời, kể về cuộc sống tiền, tình, tù tội. Theo lời kể của một số giang hồ mạng, băng nhạc có tên là “Giang hồ quận Tư”, kể về cuộc đời của các anh chị trưởng thành từ cái nôi của giang hồ Sài Gòn - người ta vẫn thường gọi nó bằng một cái tên khác, thân thiện hơn, đúng với bản chất của nó hơn, “Nhạc chế trong tù”.
Tương truyền, giọng ca khi ấy là Trần Cường Nhí sinh năm 1968, quê quán ở Đà Nẵng, đi bụi đời từ năm 20 tuổi, sở thích là uống rượu, hút thuốc, hát nhạc đường phố, chuyên môn chính là buôn ma túy, cướp giật, chém mướn, đâm thuê. Năm 1996 định cư ở Sài Gòn, 1998 bị xích, rồi giam ở Chí Hòa vì tội hát nhạc chế mất thuần phong mỹ tục. 2002 ra tù vẫn tiếp tục hát, tiếp tục gây án, 2005 lại bị bắt, kết hợp với tội trạng năm xưa nên bị kết án tử hình.
Lê Thanh Tùng, sinh năm 1974, thường xuất hiện trên các đường phố Sài Gòn với cây đàn guitar cổ điển, hát góp vui với bạn bè tại các quán nhậu. Với trang phục giản dị và đầu... không có tóc. Biệt danh Tùng chùa ra đời từ đó. Nhạc chế Tùng chùa thường chế lại các giai điệu bolero, các ca khúc nhạc vàng mang âm hưởng dân gian, bình dân trong cuộc sống và một số ca từ hơi thô tục.
Sunday, August 16, 2015
TIẾNG TÂY, TIẾNG TÀU LÀM SAO HAY BẰNG TIẾNG SÀI GÒN
Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe
một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện
ra trước mắt với những nhớ thương…
Hồi còn đi học, vẫn hay chọc mấy đứa
bạn bằng 2 câu thơ nhại: Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ/ Gái Sài Gòn cái mỏ cong
cong… Chuyện con gái Sài Gòn “mỏ” có cong
không thì hông biết, chỉ biết con gái Sài Gòn có cái dẫu môi cong cong dễ làm
chết người lắm, nhất là khi cánh môi be bé ấy cong lên một chữ “hônggg…” khi đứa
con trai rủ rê đi đâu, năn nỉ gì đó. Lúc đó, lấy gương ra soi, chắc cái mặt của
đứa con trai đó tội lắm.
Mà con gái Sài Gòn có điệu đà, õng ẹo
chút thì mới đúng thiệt là con gái Sài Gòn. Ai mà chẳng biết vậy. Gọi đó là cái
duyên ngầm của người con gái đất Gia Định cũng chẳng có gì sai. Ai hiểu được sẽ
thấy sao mà yêu mà thương đến vậy…
Có dạo đọc trong một bài viết về Sài
Gòn – Gia Định của nhà văn Sơn Nam, có thấy ông viết giọng Sài Gòn, cũng như
văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của
nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách Hoa, những người
miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định…Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản
địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất.
Giọng người Sài Gòn được xem là giọng
chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của người
miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời
gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến chất giọng ấm
nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội
nói chuyện rất hay và “điêu luyện“.
Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản
chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt
Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa
chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới cùng được ví von thế…
Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác.
Không ngọt ngào… mía lùi như một số
người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa, không nặng
nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt, giọng người Sài Gòn
cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy
kiêu hãnh của người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước
cũng khó lòng.
Dường như qua nhiều năm cùng với đất
Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và phát triển, thì giọng
nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh” của một
vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc
không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.
Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là
biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước,
bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người
Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang sang sảng riêng… Mà điều
đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen,
hén” ở cuối câu…
Người miền khác có khoái, có yêu người
Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này. Khách đến nhà chơi, chủ nhà
tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu “Thôi, tôi dìa nghen!” – Chủ nhà cũng cười
“Ừ, dzậy anh dìa hen!”.
Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết
câu chuyện và cúp máy, một người nói “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!” “thôi” ở
đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng
nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu
thoải mái…
Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt
cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau lại mang ý
nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và
từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó “Dzui dzữ hen!”. Đám bạn cùng tuổi,
ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ “Dzui dzữ hen!”…
Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi”
giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui
như “Hay dzữuuu“, “Giỏi dzữưưu…!” Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách
nói, bắt gặp “Thôi à nghen” “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen và cái
“duyên” trong giọng Sài Gòn.
Người Sài Gòn nói chuyện, không phát
âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người
Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy. Nói thì đúng là sai, nhưng viết
và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền.
Mà cũng chẳng biết có phải là do thật
sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói
lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn.
Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và
tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen!”.
Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ
nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó. Nghe một người Sài Gòn phát
âm những chữ có phụ âm “v” như “về, vui, vườn, võng” nó cảm giác sao sao á,
không đúng là giọng Sài Gòn chút nào…
Nhìn lại một quãng thời gian hơn 300
năm hình thành và phát triển của Sài Gòn từ Phiên Trấn, Gia Định Trấn, Gia Định
Thành, Phiên An, Gia Định Tỉnh…cho đến Sài Gòn, Tp HCM, dân Sài Gòn đã là một tập
hợp nhiều dân tộc sinh sống như Việt, Hoa, Kh’mer…
Các sử sách xưa chép lại, khi người
Việt bắt đầu đến Đồng Nai – Gia Định thì người Kh’mer đã sinh sống ở đây khá
đông, rồi tiếp đó là người Hoa, và một số người tộc láng giềng như Malaysia,
Indonesia (Java) cũng có mặt. Sự hợp tụ này dẫn đến nhiều sự giao thoa về mặt
văn hóa, làm ăn, cũng như những mặt khác của đời sống, trong đó dĩ nhiên phải
nói đến ngôn ngữ.
Tiếng nói của người Sài Gòn không chỉ
thuần là tiếng Việt, mà còn là sự học hỏi, vay mượn nhiều từ ngữ của dân tộc bạn,
đâm ra mang nhiều “hình ảnh” và “màu sắc” hơn. Những từ như “lì xì, thèo lèo,
xí mụi, cũ xì…” là mượn, những từ như “xà quầng, mình ên…” là của người Kh’mer.
Nói riết đâm quen, dần dần những từ
ngữ đó, những tiếng nói đó được người dân Sài Gòn sử dụng một cách tự nhiên như
của mình, điều đó chẳng có gì lạ…Thêm vào đó, nó được sửa đổi nhiều cho phù hợp
với giọng Sài Gòn, thành ra có những nét đặc trưng riêng.
Vậy nói cho cùng thì người Sài Gòn
cũng có những tiếng gọi là “tiếng địa phương” (local dialect !?). Những tiếng
này thể hiện rõ nhất khi người Sài Gòn nói chuyện cùng người miền khác. Nghe một
người Sài Gòn nói chuyện cùng một người khác vùng, dễ dàng nhận ra những khác
biệt trong lời ăn tiếng nói giữa hai người, hai miền.
Có một số từ người Sài Gòn nói, người
miền khác nghe rồi… cười vì chưa đoán ra được ý. Cũng như khi nghe người Huế
dùng một số từ lạ lạ như “o, mô, ni, chừ, răng…” trong khi nói chuyện vậy thôi.
Khác là mấy tiếng người Sài Gòn nói, vẫn có chút gì đó nó…vui vui tai, là lạ,
ngồ ngộ làm sao.
Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam
nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại
dùng từ “vâng”. Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”. Khi có ai gọi,
một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười
cợt. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi
câu nói. “Mày ăn cơm chưa con ? – Dạ, chưa!”; “Mới dìa/dzề hả nhóc? – Dạ, con mới!”…
Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao
trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó
“thương” lạ… dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật
riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền
Nam cái đã rồi hẳn hay…
Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc
Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa
nay“, còn người Sài Gòn thì nói “Hổm nay“, “dạo này“… người khác nghe sẽ không
hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn
hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng.
Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều,
nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó xinh ghê!” nghĩa là khen cô
bé đó xinh lắm vậy.) Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng
quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau.
Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm
rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn
không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất
Nam Bộ chung mà.
Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa
bạn gái nào đó của mình xem… “Nhỏ đó xinh lắm!“, “Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ”
mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ
Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.
Nói một ai đó chậm chạp, người Sài
Gòn kêu “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề… nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa,
chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi “Ê, nhóc lại nói nghe!”
hay gọi người bán hàng rong “Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”… “Ê” là
tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó
là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn.
Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì
đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở“… “cho” ở
đây là mua đó nghen. Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế
này “Lấy cái tay ra coi!” “Ngon làm thử coi!” “Cho miếng coi!” “Nói nghe coi!”…
“Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè?
Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ
“coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà. Ngồi mà nghe người
Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi “mấy từ
đó nghĩa là gì dzậy ta ?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của
người Sài Gòn à.
Người Sài Gòn có thói quen hay nói
“Sao kỳ dzậy ta?” “Sao rồi ta?” “Được hông ta?”…Nghe như là hỏi chính mình vậy
đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.
Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả
giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng
Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!”
Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người
Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang “màu sắc” riêng.
Người Sài Gòn có cái kiểu gọi “Mày”
xưng “Tao” rất “ngọt”. Một vài lần gặp nhau, nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái
là người Sài Gòn mày tao liền. Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy
cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô mà còn rất ư là thân thiện và gần
gũi.
Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy
trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn. Cách xưng-hô này thấy dàn trải từ đủ
các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu, cho đến mấy bác
mấy anh lớn lớn tuổi.
Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy
mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó…tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ
như “cậu cậu – tớ tớ” của miền Bắc. Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi
mấy tiếng mày mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và
khoai khoái làm sao ấy. Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.
Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi
nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì
khác. Khi ấy “tụi nhỏ” sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng “con” ngọt
xớt. Có vẻ như người Sài Gòn “ưa” tiếng chú, thím, dì, cô hơn; cũng như đa phần
dân miền Nam khác vậy mà.
Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ
vào việc ước lượng tuổi của người đối diện. Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm
chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì “Dì ơi dì… cho con hỏi chút…!” – còn lớn
hơn thì dĩ nhiên là “Bác ơi bác…” rồi. Những tiếng mợ, thím, cậu,… cũng tuỳ vào
vai vế và người đối diện mà gọi.
Có người chẳng bà con thân thuộc gì,
nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó
cứ thế gọi luôn là thím. Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng “con” chứ không phải
“cháu cháu” như một số vùng khác.
Cái tiếng “con” cất lên nó tạo cho
người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần
xịt lại. Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng. Tự dưng là thấy có cảm
tình liền.
Nói tiếp chuyện xưng-hô, người Sài
Gòn có kiểu gọi thế này:
Ông đó = ổng
Bà đó = bả
Anh đó = ảnh
Chị đó = chỉ
…..
Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên
cái trở nên giữ vai trò quan trọng… ngộ nghĩnh vậy nữa. Nhưng mà kêu lên nghe
hay hay đúng hông? Gọi vậy mới đúng là chất Nam Bộ – Sài Gòn á nghen.
Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi
các người trong họ theo… số. Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy,
mợ Năm… Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà
hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào. Thành ra có cách gọi :
chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng…
Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà
thì tiếng “anh-chị-em” đôi khi được…giản lược mất luôn, trở thành “Hai ơi Hai,
em nói nghe nè…” và “Gì dzạ Út ?”… Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì
Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn. Có chuyện nhờ là cứ “Út ơi…con nhờ chút!”
hoặc với mấy chị tôi thì “Hai ơi Hai…em nói nghe nè!”.
Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều
khi làm người miền khác nghe hơi…rối. Có lần, kể cho người bạn ở Hà Nội nghe về
mấy người anh chị trong gia đình. Ngồi kể lể “anh Hai, chị Hai, dì Hai, Út, cậu
Hai, mợ Hai, chú Ba…” một hồi cái bị kêu là hổng hiểu, xưng hô gì rối rắm quá
chừng, làm phải ngồi giải thích lại suốt một hồi…lâu.
Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy.
Nghe là thấy đặc trưng của cả một mảnh đất miền Nam sông nước.
Cứ thế, không sang trọng, điệu đà như
giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần
Kinh, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của
người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào, bằng cái chân chất thật thà
của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch
máu người dân Sài Gòn.
Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe
một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện
ra trước mắt với những nhớ thương…
Hải Phan
Người ta đang mua tuổi trẻ của bạn
Các ông bà chủ nhìn vào bạn, thấy bạn
18 -20 tuổi, trẻ khỏe, xinh đẹp, có thể dắt xe không mỏi tay, đứng lâu không mỏi
chân, hay xinh đẹp cho khách đến nhìn cho đẹp mắt (giống một cái bình hoa). Người
ta trả tiền để mua tuổi trẻ và tháng ngày của bạn, với giá 100 ngàn/24 giờ (giá
siêu rẻ!)
Tôi đến Tây Ninh. Buổi chiều hôm ấy
ngồi trong quán cà phê, nói chuyện với một em trai 17 tuổi. Nhà em ở huyện Bến
Cầu, nghỉ học giữa chừng, em đi làm giữ xe ở quán cafe, một tháng kiếm 2 triệu,
chủ quán bao cơm. Em ngồi như vậy từ 7 giờ sáng đến 11
giờ tối, cùng với 1 người nữa, có thay phiên để nghỉ ngơi chút đỉnh trong giờ vắng
khách. Mỗi ngày em kiếm được chừng 70.000đ. Em không phải người trẻ đầu tiên
tôi gặp phải bán thời gian trẻ nhất của mình, để kiếm đủ số tiền lo hai bữa ăn
và giúp đỡ một người thân nào đó trong cuộc sống thường nhật.
Ở Sài Gòn cũng không khác. Hàng chục
ngàn em trai, em gái, 13 -15 tuổi, trẻ trung, xinh đẹp, lơ ngơ vào thành phố,
làm một công việc gì đó như giữ xe, ngồi ghi vé xe, ngồi xếp trái cây, đứng xếp
sữa lên kệ, ngồi đánh dấu người ra vào cơ quan. Những công việc ấy có ưu điểm:
đem lại miếng ăn – vốn cực kỳ ngặt nghèo và khó khăn với những đứa trẻ ở nông
thôn, sinh ra trong gia đình nghèo khó và không có việc làm. Em nói với tôi:
“Em may mắn có việc, chứ bạn em ngồi quán cafe cả ngày, không việc làm, lại nợ
tiền… cà phê”.
Chuyện nói ra như đùa. Thật là một
tin mừng vì cuối cùng những người trẻ ở nông thôn cũng tìm được việc gì đó làm,
kiếm được chút tiền cho bữa ăn hàng ngày, và họ không phạm tội ác gì ghê gớm
vì… quá rảnh. Nghĩ như vậy cho lạc quan, bởi còn biết bao người trẻ ngoài kia
la cà ngoài quán game, thất nghiệp thành trộm cướp, cắn đá, ăn bám gia đình.
Nhưng tương lai của họ là gì, nếu năm
tháng đáng giá nhất này, họ chỉ ngồi để kiếm tiền. Họ ngồi hết 8 tiếng, 12 tiếng
rồi trở về nhà, ngã lăn trên những tấm chiếu tạm bợ của phòng trọ, ngủ say ngất
đi, để rồi sáng mai lại tỉnh dậy, ngồi tiếp những ngày tháng khác hòng có tiền
lương mỗi tháng. Họ không tiến triển chút nào trong nghề nghiệp – hoặc có thêm
rất ít chuyên môn, vì chuyên môn chính chỉ là ngồi, nhìn, đứng, đi lại, hỏi
han, dắt xe.
Đó là các nghề lương thiện. Nhưng đó
là các nghề bán đổi tuổi trẻ và thời gian để lấy tiền mưu sinh, nơi các ông bà chủ nhìn
vào bạn, thấy bạn 18 -20 tuổi, trẻ khỏe, xinh đẹp,
có thể dắt xe không mỏi tay, đứng lâu không mỏi chân, hay xinh đẹp cho khách đến
nhìn cho đẹp mắt (giống một cái bình hoa). Người ta trả tiền để mua tuổi trẻ và
tháng ngày của bạn, với giá 100 ngàn/24 giờ (giá siêu rẻ!)
Tôi quen một thầy giáo, ông rất giỏi
tiếng Anh. Khi ông theo một chương trình nghiên cứu đi Mỹ, chúng tôi ngồi nói
chuyện. Ông kể rằng năm ông 14 tuổi, vì gia đình gặp nạn, cha ông đi tù, mẹ ông
từ người làm công chức phải ra hàng chạy chợ kiếm tiền nuôi 4 đứa con. Ông “đã
lớn” nên phải theo mẹ ra chợ giữ xe, nghỉ học sớm. Hàng ngày ông xé một trang
trong quyển từ điển tiếng Anh loại rẻ tiền mà ông mua ở một hàng sách cũ, dắt
theo trong người, rồi ra bãi giữ xe.
Hết ngày hôm đó, dù có phải dắt xe
hay không dắt xe, đông khách hay không đông khách, ông cũng quyết phải học thuộc
các từ trong ấy, dùng bút chép lung tung vào quyển vở mang theo. Quyển từ điển
vơi dần, ông cũng thuộc thêm nhiều từ, nhiều câu, cộng với mấy quyển sách học
viết, ông tự học tiếng Anh và vẫn đi giữ xe, kiếm tiền phụ mẹ nuôi em. Khi tiễn
ông ra sân bay, tôi không thể tin người đàn ông chững chạc và thành đạt trước mắt
mình lại có ngày 14 tuổi, đi giữ xe, chạy chợ và học thành thạo một ngôn ngữ.
Khi nhìn thấy những ánh mắt trẻ làm
các nghề ngồi, nghề giết thời gian đổi tiền, tôi nghĩ tới ông, nghĩ tới cả những
người Nhật tôi từng gặp, đi một chuyến tàu 20 phút về nhà cũng giở sách ra đọc,
coi như đọc được vài trang. Mỗi ngày thầy học 1 trang giấy, mỗi ngày người công
chức Nhật đi làm đọc 3 trang sách, 30 ngày là được 30 trang từ điển và 90 trang
sách. Cái thời gian ngắn ngủi, ngán ngẩm và tiêu tốn mà các bạn đang phải đem
ra để đánh đổi lấy tiền ăn, tiền sống, thực ra cũng có thể tận dụng theo một
cách nào khác.
Bạn có thể đọc hết 1 quyển sách trong
3 tháng, có thể chậm hơn 1 em sinh viên ngồi cả ngày trong thư viện. Bạn có thể
học hết một quyển chuyên đề trong 4 tháng, càng chậm hơn so với một người có
chuyên ngành và được cha mẹ trả tiền cho đi học. Nhưng dù chậm trễ đến vậy, bạn
cũng đang tiêu xài những khoảnh khắc ngắn một cách có ích, thay vì ngán ngẩm ngồi
nhìn khách vào tòa nhà, ngán ngẩm ngồi canh kệ thuốc lá, ngán ngẩm ngồi chờ
khách ra xe, ngán ngẩm mở những clip hài trên mạng cho nhau xem, cười hề hề, xem
truyện sex (nên đọc khi về nhà ngủ), check Facebook, tán dóc điện thoại, tốn tiền
xem hàng online giá rẻ mà không có lúc nào đi mua được.
Lâu rồi, trên đài phát thanh tôi từng
nghe, có kể chuyện một anh chế máy nông cụ. Người ta hỏi anh vì sao làm công chức
giấy tờ lại biết chế máy cho nông dân, mà chế có vẻ thực tế vậy. Anh kể, hàng
ngày tôi đi làm, đều phải ngồi xe công ty một tiếng để tới thành phố vào làm. Một
tiếng đó tôi ngồi đọc sách, vẽ mẫu, xong đâu đấy thì chế thử, cuối cùng cũng
ra.
Vậy là khi vài chục người khác cùng
công ty trên chuyến xe của anh đang ngủ, đang tán dóc, đang nghe nhạc, đang nói
xấu đồng nghiệp, thì anh ta đọc sách. Với một năm đi làm, anh ta vừa có lương,
vừa “thặng dư” được 200-300 giờ đọc sách, tức là tương đương 8 -12 ngày đọc
sách 24 giờ liên tiếp. Mớ kiến thức tưởng chừng đùa giỡn của anh công chức,
trang từ điển tưởng chừng xé ra chơi của ông thầy, gom lại đã thành một tương
lai rất khác của người ta – khi ta trẻ và thừa thãi thời gian để tiêu phí.
Bây giờ còn dễ hơn xưa cả trăm lần.
Ông thầy tôi phải tốn công xé giấy, anh công chức phải vác sách theo. Chớ bây
giờ, ai cũng có cái điện thoại để nghe nhạc, chơi Facebook, xem phim, xem clip
hài. Mấy cái điện thoại đó có thể xem được vô số loại sách vở trên đời, cứ mở
ra nhìn vô là thấy thứ để đọc.
Hãy tưởng tượng mà xem, khi bạn 18
-20 tuổi, người ta sẵn sàng thuê bạn để ngồi, để làm bảo vệ, làm tiếp viên, làm
nhân viên đón khách… vì bạn trẻ, đẹp, có nụ cười tươi, có sức khỏe, có vóc
dáng. Đến khi bạn 40 tuổi, nhan sắc tàn, sức khỏe xấu, vóc dáng béo phệ, và bạn
vẫn chẳng biết làm gì hơn là bán thời gian của mình để… ngồi, liệu có còn ai
thuê bạn không?
Vào một lúc nào đó… ta phải chi xài
tuổi trẻ của mình một cách hợp lí, dù đang bị trăm thứ cơm áo gạo tiền ghì lấy.
Mình phải biết một thứ gì đó thật tốt,
phải có một “chuyên môn” gì đó, dù nhỏ tí xíu và đơn giản, phải có tri thức cho
chính mình, dù ít hay nhiều. Trong một bài nói chuyện trên TED tui từng nghe,
bà diễn giả bảo bà cực kỳ ngạc nhiên về sự thay đổi của công nhân Trung Quốc, ở
khu công nghiệp bà khảo sát, có những lớp dạy tiếng Anh cả 2-3 giờ sáng, dạy
theo bất cứ ca nào có công nhân cần học. Và giờ thì giá tiền lương công nhân TQ
hết rẻ nhứt rồi vì họ chăm quá mà.
Thôi mình đừng ngồi ngơ ngác nhấn
chìm thời gian nữa…. chỉ để đổi lấy vài triệu ít ỏi cho cơm áo hàng ngày…
Khải Đơn
Friday, August 14, 2015
Sài Gòn đâu cần nhập tịch
Đã nhiều lần tôi ước mình sinh ra đâu
đó ở miền quê, có sông suối, núi đồi, vườn cây hoa lá, để lâu lâu về quê lại có
những “đêm buồn tỉnh lẻ”, về Sài Gòn kể chuyện làm quà ra cái điều lãng mạn.
Sinh ra, lớn lên và sống gần hết đời ở
cái đất Sài Gòn này mới thấy nó chán phèo. Hồi nhỏ thì chơi tạc lon, đánh đáo,
giựt cô hồn… Thả diều không được vì ông già Mười, nhà có xe hơi xách baton rượt,
sợ vướng dây điện. Tụi tui lấy kẹo cao su gắn dính vô chuông cổng nhà ổng rồi bỏ
chạy. Lớn hơn chút nữa thì chơi bầu cua, cát tê, xập xám,…
Mỗi tối mẹ sai tôi xách thùng rác ra
gốc me ngoài đường đổ. Tối cúp điện, tôi vừa xách thùng rác vừa nghêu ngao:
“…Đường về hôm nay tối thui, gập ghềnh em không thấy tui, em đụng tui, em nói
tui đui…”. Tội nghiệp bản “Kiếp nghèo” của Lam Phương, tôi chỉ cám cảnh a dua
hát theo chứ đâu biết sửa lời. Trời nóng, để tạm thùng rác ở gốc me, chạy ra
phông- tên nước gần đó, năn nỉ mấy chị ma-ri-sến gánh nước thuê, cho em thò cái
đầu vô vòi nước một chút. Mát đầu có sức quậy tiếp.
Xóm nhỏ đôi khi lầy lội. Thỉnh thoảng
mấy bà trong xóm cũng cãi nhau ầm ĩ. Hôm sau hai ông chồng lại ngồi khề khà nhậu
với nhau, còn mấy bả đon đả tiếp mồi.
Cãi nhau là chuyện nhỏ, chuyện hôm qua cho nó qua luôn. Đời sống nghèo ở Sài Gòn
là vậy, có gì thơ mộng đâu?
Mà nói thiệt, tôi là dân Bắc kỳ… chín
nút. Nhưng đó là chuyện của ba má tôi, dù sau này có về thăm quê nội ngoại tôi
vẫn thấy hụt hẫng và hờ hững thế nào ấy. Tôi lớn lên ở Sài Gòn, không khí Sài Gòn,
cơm gạo Sài Gòn, đầu Sài Gòn, tim Sài Gòn,… bao nhiêu thứ buồn vui với nó.
Trong tôi cứ bám riết cái Sài Gòn chán phèo này, dù đôi lúc mặc cảm mình không
phải là dân Sài Gòn.
Hồi 54, cả trăm ngàn dân di cư mang
theo đủ loại kiểu sống bó trong lũy tre làng đem nhét hết vô mảnh đất nhỏ xíu
này, cũng gây xáo trộn cho người ta chứ. Phong tục, tập quán, ở đất người ta mà
cứ như là ở đất mình. Nhưng người Sài Gòn chỉ hiếu kỳ một chút, khó chịu một
chút, rồi cũng xuề xòa đón nhận.
Lúc đầu tụi bạn ghẹo tôi là “thằng Bắc
kỳ rau muống”. Con nít đổi giọng nhanh mà, trong nhà giọng Bắc, ra ngoài giọng
Nam. Thế là huề hết. Rủ nhau đi oánh lộn phe nhóm là chuyện thường. Khỏi cần biết
đúng sai, mày đánh bạn tao, thì tao đánh lại, Oánh lộn tưng bừng. Vài ngày sau
lại rủ nhau đi xem xi nê cọp. Dễ giận dễ quên.
Hè, tụi bạn về quê, Bến Lức, Vĩnh
Long, Kiến Hòa… cũng chia tay hứa hẹn, tình cảm ra rít: “Tao về quê sẽ mang lên
cho mày ổi xá lỵ, xoài tượng…”. Tôi ngóng cổ chờ bạn, chờ quà. Thực ra, tôi
thèm có quê để về.
Tết đến, thầy cô, bạn bè về quê, nhiều
người Sài Gòn xôn xao về quê. Tôi ở lại Sài Gòn mà thấy hình như mình vẫn không
phải là dân Sài Gòn. Vây ai là dân Sài Gòn chính hiệu đây? Chẳng lẽ phải tính từ
thời mấy ông Pétrus Ký hay Paulus Của?
Sài Gòn trẻ măng, mới chừng hơn 300
tuổi tính từ thời Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền ở đây. Sài Gòn khi cắt ra khi
nhập vào, to nhỏ tùy lúc. To nhất có lẽ khi nó là huyện Tân Bình, kéo dài đến tận
vùng Biên Hòa. Nhỏ nhất là vào thời Pháp mang tên Sài Gòn. Ngay trước 1975, Sài
Gòn rộng chừng 70 km2, có 11 quận, từ số 1 đến 11. Hồi đó Phú Nhuận, Tân Bình,
Thủ Đức,.. còn được xem là nhà quê (tỉnh Gia Định). Bây giờ Sài Gòn rộng tới
2.000 km2.
Sài Gòn đắc địa, có cảng nối biển, là
đầu mối giao thương quốc tế, tiếp cận với văn minh Tây phương sớm. Đất lành
chim đậu. Người miền Nam đổ về nhiều.
Dân Sài Gòn không có địa giới rõ rệt. Nói tới họ có vẻ như là nói tới phong
cách của dân miền Nam. Họ là những lưu dân, khai phá, hành trang không có bờ
rào lũy tre nên tính tình phóng khoáng, trọng nghĩa khinh tài, nói năng bộc trực…
Ai thành đại gia thì cứ là đại gia, ai bán hàng rong thì cứ bán.
Sài Gòn không tự hào mình là người
thanh lịch, không khách sáo, không mời lơi. Họ lấy bụng thiệt mà đãi nhau.
Sàigòn có mua bán chém chặt? Có, đúng hơn là nói thách. Cứ vô chợ Bến Thành xem
mấy bà bán mỹ phẩm, hột xoàn hét giá mát trời ông Địa luôn. Đối tượng nói thách
của họ là khách hàng, chứ không cứ gặp khách tỉnh mới nói thách. Dân Sài Gòn lơ
mơ cũng mua hớ như thường. Thuận mua vừa bán mà.
Ít nơi nào nhiều hội ái hữu, hội
tương tế, hội đồng hương như ở Sài Gòn. Dân tứ xứ về đây lập nghiệp nhiều. Có
máu lưu dân trong người, dân Sài Gòn thông cảm đón nhận hết, không ganh tị,
không thắc mắc, không kỳ thị. Người ta kỳ thị Sài Gòn, chứ Sài Gòn chẳng kỳ thị
ai. Nhiều gia đình người Bắc người Trung ngại dâu ngại rể Sài Gòn, chứ dân Sài
Gòn chấp hết, miễn sao ăn ở biết phải quấy là được.
Dân Sài Gòn làm giàu bằng năng lực
hơn là quyền lực. Người ta nói “dân chơi Sài Gòn”. Trời đất! Sài Gòn mà “tay chơi” cái nỗi gì. Tay chơi
dành cho những đại gia mới giàu lên đột xuất từ đâu đó đến. Đổi đời, Sài Gòn biết
sợ. Sài Gòn a dua thì có, nhưng a dua biết chọn lọc. Coi vậy chứ dân Sài Gòn
đâu đó còn chút máu “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả”. Cứ xem dân Sài Gòn làm công
tác xã hội thì biết, cứu trợ lũ lụt thấy người ta lạnh quá, cởi áo len đang mặc
trên người tặng luôn. Họ làm vì cái bụng
nó thế, chứ không phải vì PR, đánh bóng bộ mặt.
Biết bao văn nghệ sĩ miền Bắc, miền
Trung vào đất Sài Gòn này “quậy” tưng, tạo ra cái gọi là văn học miền Nam hậu
54 coi cũng được quá chứ? Nhạc sĩ Lam Phương, quê Rạch Giá, 10 tuổi đã lưu lạc
lên Sài Gòn kiếm sống. Năm 17 tuổi nổi danh với bản “Kiếp nghèo” và khá giả từ
đó.
Tiếp cận văn minh phương Tây sớm, nên
dân Sài Gòn có thói quen ngả mũ chào khi gặp đám ma, xe hơi không ép xe máy, xe
máy không ép người đi bộ, chạy xe lỡ va quẹt vào nhau, giơ tay chào ngỏ ý xin lỗi
là huề. Những thói quen này giờ đây đang mất dần, nhưng dân Sài Gòn không đổ thừa
cho dân nhập cư. Họ cố gắng duy trì (dù hơi tuyệt vọng) để người mới đến bắt
chước vì lợi ích chung. Chợ hoa là một chút văn hóa của Sài Gòn, có cả nửa thế
kỷ nay rồi, có dân nhập cư nào “yêu” hoa mà ra đó cướp giựt hoa đâu.
Sài Gòn nhỏ tuổi nhiều tên, nhưng dù
thế nào Sài Gòn vẫn là Sài Gòn. Nhiều người thành danh từ mảnh đất Sài Gòn này.
Sài Gòn nhớ không hết, nhưng mấy ai nhớ đến chút tình của Sài Gòn? May ra những
người xa Sài Gòn còn chút gì nhức nhối. Tôi có người bạn Bắc kỳ chín nút, xa Việt
Nam cũng gần 40 năm. Tên này một đi không trở lại, vừa rồi phone về nói chuyện
lăn tăn, rồi chợt hỏi: “ Sài Gòn còn mưa không?”. “Đang mưa”. Đầu phone bên kia
thở dài: “Tao nhớ Sài Gòn chết… mẹ!”. Sài Gòn nay buồn mai quên, nhưng cũng có
nỗi buồn chẳng dễ gì quên.
Mới đây đi trong con hẻm lầy lội ở
Khánh Hội, chợt nghe bài hát “Kiếp nghèo” vọng ra từ quán cà phê cóc ven đường.
Tôi ghé vào gọi ly cà phê. Giọng Thanh Thúy sao da diết quá: “Thương cho kiếp sống
tha hương, thân gầy gò gởi theo gió sương…”. Chủ quán, ngoài 60 cầm chồng báo
cũ thẩy nhẹ lên bàn “Thầy hai đọc báo…”. Hai tiếng “thầy hai” nghe quen quen… Tự
nhiên tôi thấy lòng ấm lại. Sài Gòn từ tâm, Sài Gòn bao dung. Tôi chợt hiểu ra,
mình đã là người Sài Gòn từ thưở bào thai rồi, cần gì xin nhập tịch.
Vũ Thế Thảnh
Subscribe to:
Posts (Atom)







