Wednesday, December 19, 2012

Trí thức chế độ cũ và những góc nhìn về hoà giải

(Bài cũ, dời nhà!)

Nếu còn gì đó lấn cấn với nhau, nếu còn ai đó tính toán "công tội" với nhau, những công tội của quá khứ chiến tranh, thì hãy để cho những người trẻ Việt Nam trong và ngoài nước hợp lực hòa giải với nhau - cựu dân biểu chế độ cũ Hồ Ngọc Nhuận.
Cựu dân biểu chế độ cũ Hồ Ngọc Nhuận:
Hãy để những người trẻ Việt Nam hợp lực hòa giải với nhau
Chủ bút tờ Tin Sáng (1975-1981), một dân biểu đối lập thời chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, một người đấu tranh cho hòa bình ở Việt Nam đã chứng kiến một chặng đường dài từ chiến tranh sang hòa bình và những ngày không đơn giản trong cuộc sống hòa bình, đã viết Hồi ký Đời, tâm sự:
"Theo tôi biết thì không có triều đại chế độ nào, từ  Đông Tây Kim Cổ mà không muốn an dân  khi đã hoàn toàn chiến thắng, để được an vị lâu dài. Nhưng  an vị lâu dài chỉ có thể có với lòng dân và trong lòng dân, bằng con đường hòa giải thật sự trong hành động chớ không bằng lời nói.
Hằng triệu kiều bào ta ở nước ngoài, mà đa số đã  ra đi cách đây ngót 30 năm trong những hoàn cảnh và nghịch cảnh rất khác nhau và con cháu họ, nay tuyệt đại đa số, nếu không nói là tất cả đều một lòng một dạ hướng về quê hương, với ước nguyện cháy bỏng  được góp phần hàn gắn những vết thương chiến tranh, tô thấm non sông, làm giàu cho dân tộc. Ngay  cả trong những lúc tha hương, nhiều khi bị đối xử bất công, ghẻ lạnh,  những người đồng hương đồng  bào ruột thịt đó cũng không ngừng nỗ lực hằng ngày làm rạng rở quê hương trên nhiều lãnh vực, trên trường quốc tế...
Cựu dân biểu chế độ cũ Hồ Ngọc Nhuận.
Chỉ tính riêng về mặt tài chánh thôi, thống kê vài năm  qua cho thấy những người bà con đó đã lao động cật lực, đã nhịn ăn nhịn mặc để gửi về cho người thân trong nước khoảng trên dưới 3 tỷ  đô la hằng năm. Nếu tính luôn những chuyến về thăm quê ngày càng nhiều, ngày càng đông, với những chi phí đi lại ,dịch vụ, quà cáp hay giúp đở đầu nầy đầu nọ, trong các lãnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội, phát triển cộng đồng, chăn nuôi, trồng trọt, làm ăn buôn bán, v.v... thì  tổng số kiều hối có thể lên đến gấp đôi. Tức tối thiểu cũng bằng khoảng 15% tổng sản lượng nội địa. Không thể nói hằng tỷ đô la đó chỉ có thân nhân kiều bào là được hưởng còn xã hội không được hưởng gì. Làm sao  những người bà con thân nhân kiều bào sinh hoạt, làm ăn sinh sống  mà không với chính đồng bào mình chung quanh và ngược lại. Cũng không thể nói rằng chánh quyền ta, Nhà Nước ta không hề được nhẹ gánh lo âu phần nào cho xã hội nhờ có những đồng đô la tình nghĩa đó...
Lực lượng kiều bào ta ở khắp năm châu hiện nay là một lực lượng đáng kể và đáng nể, mà không phải đất nước nào, dân tộc nào cũng có được. Không chỉ về số lượng mà còn là, và nhất là về chất lượng. Đây còn là một tổng hợp, một kế thừa hiếm thấy từ khi nước ta còn là một thuộc địa. Từ những ngừời lính thợ trong thế chiến II . Từ những bậc tiền bối ra đi tìm đường cứu nước. Từ cụ Phan Chu Trinh và các bạn già trẻ của Người, trong đó có nhà báo yêu nước tiền bối Nguyễn An Ninh. Từ những lần Nguyễn Ái Quốc đặt chân đến Paris, đến San Francisco. Từ những năm 1945, những năm 1954, qua 1968 đến 1973, với Hiệp định Hòa bình Paris, cho đến tận bây giờ. Từ những người trẻ trung ưu tú bỏ lại tất cả sau lưng để về chiến khu, theo tiếng gọi của núi sông và của chủ tịch Hồ Chí Minh, cho đến đàn con đàn cháu rủ nhau lần lượt về Sài Gòn, về Hà Nội, về Việt Nam góp phần xậy dựng đất nước. Họ đã được sử dụng, đối xử, bồi dưỡng thế nào để gọi là xứng đáng: xứng đáng với tấm lòng của họ, và xứng đáng với những người đã và đang kế thừa sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh ?
Chiến tranh đi qua đã để lại cho đất nước ta những hậu quả thật đau lòng, những vết thương hằn sâu âm ỉ... nhưng cũng "an ủi", "bù lỗ rộng rai" cho dân tộc ta một lực lượng cổ kim mới thấy: một lực lượng hải ngoại hơn hai triệu người, và còn nhân lên hơn nữa, đa tài, đa năng, đa phương tiện, đa tay nghề, đa nguồn gốc xuất thân, đa môi trường đào tạo, trui luyện... và nhất là giàu lòng yêu nước thương nòi.
Thử hỏi ngần ấy người, với tài năng nhiệt huyết như vậy, nếu không yêu nước thì sẽ là một áp lực như thế nào, về mặt chánh trị, về mặt kinh tế? Trong nhiều tình huống, trong nhiều cấp độ?  Chính lòng yêu nước, chớ không vì một lý do gì khác, kể cả lý do vì có thân nhân đang sinh sống trong nước, đã khiến kiều bào ta ở nước ngoài tìm cách giúp nước, không nhiều thì ít, hoặc nếu không giúp được gì thì cũng không làm gì gây phương hại cho đất nước.
Cái gì làm nên tài năng, cống hiến đáng nể của  kiều bào ta ở nước ngoài khi bà con ở nước ngoài? Cái gì phát huy được bà con ở nước ngoài mà không phát huy họ ở trong nước? Đừng tưởng đó chỉ  là vì điều kiện vật chất, chỉ vì điều kiện vật chất đang thiếu thốn trong nước. Nhưng trước hết đó chính là điều kiện tinh thần. Điều kiện vật chất nào đã khiến cho trước đây các nhà trí thức ở nước ngoài, nhất là ở Pháp về, phát huy tối đa tài năng và óc sáng tạo ở chiến khu, ở Hà Nội, để ta đánh trả lại giặc có hiệu quả, trong những năm chiến tranh ác liệt nhất? Và điều kiện nào khiến họ không phát huy được nữa khi hết cơn nguy, khi hết tiếng súng? Hãy để cho họ được hưởng một không khí cởi mở, thẳng thắn, bình đẳng tôn trọng lẫn nhau...
Nếu còn gì đó lấn cấn với nhau, nếu còn ai đó tính toán "công tội" với nhau, những công tội của quá khứ chiến tranh, thì hãy để cho những người trẻ Việt Nam trong và ngoài nước hợp lực hòa giải với nhau.
Những người trẻ trên dưới ba mươi, những người trẻ của thế hệ 30/4/1975, tuổi xứng đáng để nhận lãnh vai trò nhiệm vụ kế thừa gánh vác việc nước, việc dân.
Những người trẻ không hề biết chiến tranh, cũng không hề muốn thấy nó tái diễn, nhất là loại chiến tranh giữa những người "cùng một bọc", những người trẻ không tì vết, không mặc cảm, không hận thù, không so đo. Những người trẻ đang dự phần ngày càng nhiều vào việc xây dựng và quản lý đất nước.
Hãy để họ giải quyết với nhau, trong tình huynh đệ, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, đùm bọc lẫn nhau. Và hào hiệp, quảng đại với nhau, vì đó là đức tính chung nhất của tuổi trẻ.

Đây có thể gọi là cơ hội lịch sử góp phần quyết định gạch ngang quá khứ, khép kín thương đau, vạch đường tương lai để muôn người Việt Nam như một tiến về phía trước.
GS Phan Văn Trường, cố vấn tài chính chính phủ Pháp, hiện đang giảng dạy tại VN:
Tình yêu nước muôn người như một
Có một số người ngày nay còn mơ hoặc muốn có 2 nước Việt Nam: cách nhìn quá ích kỷ và không thực tế.
Có người lại muốn có đến 100 dân tộc Việt lơ lớ trong lúc cần đến một tầm nhìn: thống nhất, đoàn kết, để hùng mạnh hơn, để hạnh phúc ấm cúng hơn.
Hoặc là Việt, hoặc không là Việt, chứ không có người Việt lơ lớ! Chữ lơ lớ khổ tâm lắm.
Những người thuộc dân tộc KINH sống tại 100 nước trên thế giới, ngày ngày làm việc tại nước người, có thẻ hộ chiếu nước người, dạy con tiếng Việt, phong tục Việt, văn hóa Việt.
Về chợ Bến Thành mua sắm thì bị coi như người nước ngoài mà khi làm từ thiện thì phải nhận nghĩa vụ là công dân Việt Nam.
GS. Phan Văn Trường.
Khi khi mua nhà thì bị khuyến khích mua căn hộ, không được mua nhà đất. Mỗi năm phải đợi luật nhúc nhích thêm một chút để đầu tư, mua sắm vv... đó là Việt lơ lớ.

Sau nhiều lần về nước tôi ít khi gặp gia đình nào mà không có thành viên cả bản xứ lẫn Việt kiều, chế độ cũ lẫn mới.
Tôi toàn gặp những người Việt sống tại nước ngoài yêu nước. Những định kiến, nếu có không bao giờ va chạm đến tình yêu của họ với nước Việt Nam muôn đời, đất Lạc Hồng muôn thuở.

"Việt kiều già trẻ lớn bé" đều cần thiết trong công cuộc xây dựng đất nước. Nhiều người ra đi đã sớm thành công tại nước người, chỉ trong thời gian của một thế hệ thôi mà họ đã giành được một chỗ đứng xứng đáng.
Thế hệ thứ nhất nay đã trên 60 hoặc 70 tuổi. Càng có tuổi họ càng hướng về nơi chôn rau cắt rốn. Và tất nhiên họ cũng muốn lôi cuốn con cháu về với họ.

Trước sau gì chúng ta cũng phải nhớ rằng thành phần người Việt tại nước ngoài rất hùng mạnh, đã chứng tỏ tại các quốc gia đón nhận họ là thành phần nòng cốt của các trường Đại Học, doanh nghiệp. Thêm vào đó thành phần Việt kiều đã giúp đỡ tài chánh cho đât nước rất rất nhiều, thậm chí có những năm tiền Việt kiều là thành phần lớn của nền kinh tế đất nước.

Nếu việc gửi tiền quy mô như vậy, việc chú tâm gìn giữ văn hóa lịch sử Việt như vậy, dạy con gìn giữ tiếng quốc ngữ học ca dao như vậy, thờ phụng tổ tiên như vậy, cúng bái đúng theo phong tục như vậy, với giòng máu dân tộc Kinh từ 100 đời như vậy, có tên họ Vũ Phạm Trần Vương Nguyễn Lê Lý Phan Trương... như vậy, hò hét nói lái tiếng Việt như vậy, mà vẫn có người Việt Nam cho họ không phải là người Việt Nam thì quả thực là một điều bất hạnh.
Giáo sư Lý Chánh Trung:
"Hòa hợp bằng sự khoan dung độ lượng"
Dẫu theo tôn giáo nào, thuộc ý thức hệ nào, dầu đứng ở đâu, mỗi người Việt đều mang trong da thịt mình tinh thần dân tộc. Nó là sợi dây liên đới thiêng liêng, món quốc bảo duy nhất cần được giữ gìn, là sức mạnh vô địch của dân tộc.
Bất cứ người Việt Nam nào, dầu có xa rời dân tộc đến đâu vẫn có thể trở về nguồn cội mỗi khi nghe tinh thần dân tộc dâng lên từ gan ruột mình.
Chúng ta chỉ có thể hòa giải hòa hợp với nhau trong tinh thần đó: dũng cảm bất khuất với người ngoài và khoan dung độ lượng giữa anh em.
Chỉ có thể hòa giải giữa những người Việt độc lập với ngoại bang, trung thành với chánh kiến của mình và cởi mở với những người không cùng chánh kiến nhưng cùng một tình  tự dân tộc. (Trích Điện Tín 22/9/1974).
Tôi tin rằng dân tộc tôi có tính khoan dung, đối với người và đối với mình, sẽ biết dung hợp những di đồng, vượt qua mâu thuẫn để tạo dựng một xã hội cởi mở, trong đó các thành phần đều có quyền sống và có thể sống với nhau trong tình anh em, như đã từng làm được trong quá khứ.(Trích Điện Tín 31/12/1974)

No comments:

Post a Comment