Tuyên bố và công hàm
Những dữ kiện và diễn tiến khách quan trong nội dung năm 1958 như trình bày trên đây đã gộp lại làm cơ sở tương đối vững chắc, trong tổng thể cũng như trong chi tiết, để (i) thuyết phục rằng tuyên bố của TC chỉ là nhằm vào bề rộng hải phận 12 hải lý, công hàm PVÐ là nhằm ủng hộ quyết định hải phận 12 hải lý đó, và (ii) phản bác lập luận của TC cho rằng công hàm đó công nhận chủ quyền của TC ở hai quần đảo HS-TS.
- Nhìn từ bối cảnh chiến tranh lạnh lúc đó và trong nội dung tiến trình Hội nghị Luật Biển kỳ I và Quy ước Geneve về hải phận năm 1958 như đã nói ở trên, thì những phát biểu về sau của các giới chức VN cũng có thể được giải thích phù hợp với việc ủng hộ tuyên bố ngày 4 tháng 9 của TC: công nhận quan điểm (12 hải lý) của Trung Quốc là do tình thế bắt buộc, và ủng hộ lập trường (12 hải lý) của Trung quốc lúc đó là điều cần thiết.
- Thật ra, tài liệu cho thấy năm 1979 chính phủ VN đã có ra một bản tuyên bố về lập trường của TC, soi sáng vấn đề công hàm PVÐ, nội dung như sau:
Tuyên bố của Bộ Ngoại Giao nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (ngày 7 tháng 8 năm 1979):
Ngày 30 tháng 7 năm 1979 tại Bắc Kinh, phía Trung quốc đã cho công bố một vài tài liệu với ý định để minh chứng cho việc tuyên bố chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Về vấn đề này, Bộ Ngoại Giao nước CHXHCN Việt Nam tuyên bố:
Sự diễn giải của Trung Quốc về bản công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa như một sự công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo là một sự xuyên tạc trắng trợn khi tinh thần và ý nghĩa của bản công hàm chỉ có ý định công nhận giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung quốc.
(Hà Nội ngày 7 tháng 8 năm 1979)
Chữ “lãnh hải” cũng được dùng như “hải phận”, và cả hai đều tương ứng với chữ territorial sea hay territorial waters.
Ðã đến lúc giải mật
Khả năng thuyết phục và phản bác trên đây hoàn toàn căn cứ vào những sự kiện và diễn tiến khách quan trong năm 1958 mà cũng có người có thể cho là trùng hợp, tình cờ, ít nữa là trên lý thuyết. Ðiều cần phải làm để biết rõ hoàn toàn sự thực về công hàm PVÐ là đối chiếu những sự kiện khách quan đó với những nhận định và bàn cãi nội bộ, những ý định và động lực của các cấp lãnh đạo VNDCCH lúc đó, đưa đến quyết định về công hàm.
Sau hơn 50 năm, nhà cầm quyền VN không có lý do gì mà không cho giải mật toàn bộ hồ sơ công hàm PVÐ, trong các tài liệu ở Bộ Ngoại Giao, ở phủ Thủ tướng, ở Bộ Chính Trị, và trong các trao đổi riêng của cấp lãnh đạo lúc đó về vấn đề này. Chính phủ cần xúc tiến ngay một cuộc điều tra toàn diện trong tất cả các nguồn tài liệu, kể cả hồi ức của các viên chức còn sống sót.
Dù kết quả của việc giải mật và điều tra này đưa tới đâu, chính phủ và đảng cộng sản, ở cấp cao nhất, phải công bố kết quả và ban hành những giải pháp thích nghi.
Thực tế cần quan tâm
Mặc dù không ai biết chắc chắn hiệu quả pháp lý của công hàm như thế nào, công hàm PVÐ trong thực tế đã gây tạo nhiều phản ứng sâu rộng trong nhiều giới dân chúng trong rất nhiều năm qua.
Sự việc này như đã làm lạc hướng sự công phẫn của nhiều giới, và đã phần nào che lấp những thực tế cần lưu ý và đáng quan tâm hơn ở Biển Ðông: Ðó là (i) sự nhu nhược của lãnh đạo cộng sản VN hiện nay, (ii) việc TC chiếm cứ HS-TS bằng võ lực, và (iii) triển vọng khai thác tài nguyên qua điều 121 của UNCLOS liên quan đến hải đảo.
Nhu nhược của lãnh đạo cộng sản
Tình trạng lệ thuộc và sự nhu nhược của các lãnh đạo cộng sản VN hiện nay trong quan hệ với TC đã được nhiều viên chức cao cấp cộng sản nêu lên, đặc biệt là nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ trong cuốn “Hồi Ức và Suy Nghĩ”, hoàn chỉnh năm 2005 ở trong nước, và nguyên Ðại tá nhà báo Bùi Tín trong nhiều bài báo ở hải ngoại. Cả hai đã trình bày rõ ràng với tài liệu khả tín, từ sự sa lầy của VN ở Kampuchia 1979-88, qua chiến trường biên giới Việt-Trung, qua tiến trình xin tái lập bang giao với TC 1988-91, đến nỗ lực hoảng hốt xin bám víu và nương tựa vào TC sau sự sụp đổ nhanh chóng và toàn vẹn của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô và chư hầu Ðông Âu hồi 1991, trong lúc Hoa kỳ vẫn còn duy trì cấm vận VN.
Ông Cơ đã từ chối không nhận chức ngoại trưởng vì bất bình với chính sách lệ thuộc đó.
- Lời phản kháng của Bộ Ngoại Giao CHXHVN đưa ra hồi 1979 nói trên đã xảy ra 6 tháng sau khi TC tung quân tràn qua biên giới VN. Nhưng rồi trong 30 năm qua không nghe thấy chính phủ VN nhắc lại, mặc dù đã có bao nhiêu uất hận tỏ bày trong và ngoài nước liên quan đến công hàm PVÐ, đòi hỏi chính phủ phải xác định rõ ràng lập trường về vấn đề này trước hàng loạt tuyên truyền của TC.
Sự im lặng và thái độ thụ động đó của giới cầm quyền đã làm gia tăng sự phẫn nộ của người Việt khắp nơi, coi đó như là thêm một bằng chứng của sự lệ thuộc TC bắt nguồn từ khi VN chạy chọt tái bang giao.
- Tất cả những ai lưu tâm đến tiền đồ VN ở Biển Ðông đều phải quan tâm đến sự nhu nhược và tình trạng lệ thuộc của lãnh đạo cộng sản hiện nay. Rốt cuộc lại thì cho dù luận cứ lịch sử có vững vàng tới đâu, cho dù vị thế pháp lý có thuận lợi tới mức nào, mọi thương thảo về chủ quyền và tài nguyên với TC đều lép vế và kết quả đều bất lợi nếu lãnh đạo lệ thuộc và nhu nhược.
TC chiếm đóng HS-TS bằng võ lực
Dù là trong hỏa mù công hàm PVÐ, các luận điệu của TC liên quan đến vấn đề chủ quyền ở HS-TS cũng không thể nào che đậy được thực tế là TC đã chiếm giữ các hải đảo của VN bằng võ lực: chiếm cứ tất cả quần đảo HS từ năm 1974 và một phần quần đảo TS từ năm 1988.
- Song song với việc chiếm đóng này ở HS-TS, TC trong 20 năm qua đã tung ra hàng loạt những hoạt động nhằm củng cố vị thế chiếm đóng đó của mình, khi thì dương oai thị võ, khi thì tương nhượng ngoại giao, khi thì qua thủ đoạn hành chánh: tập trận quân sự, bắn chết ngư dân VN, thương thảo riêng biệt với từng quốc gia Ðông Nam Á, thỏa hiệp quy tắc ứng xử chung, phản đối không cho Exxon Mobil và BP đi tìm dầu cho PetroVietnam nhưng lại cấp giấy phép cho Crestone và Kantan... và lập huyện Tam Sa để quản trị trên giấy tờ các quần đảo HS và TS.
- Luật quốc tế không công nhận việc chiếm đóng bằng võ lực này. Nhưng thời gian trôi qua mà sự chiếm đóng vẫn còn lưu diễn: tất cả HS đã 35 năm, và một phần TS cũng 21 năm.
Sự chiếm đóng này là điều nhức nhối tột độ cho người Việt ở khắp nơi. Nhưng trong nội dung tương quan lực lượng, và trong bối cảnh quốc tế hiện nay, VN khó có thể làm gì hơn về phía quân sự; dù có chấp nhận thêm hy sinh thì cũng chỉ có thể vặn lui lại phần nào mốc thời gian chiếm đóng.
- Trong nội dung đó, VN cần phải tích cực quảng bá sâu rộng hơn nữa lập trường chủ quyền của VN đối với HS-TS, trong truyền thống Trần Văn Hữu/San Francisco và Vương Văn Bắc/Caracas, căn cứ trên luận cứ lịch sử và bằng chứng thực tế, đồng thời thường xuyên nhắc đi nhắc lại sự chiếm cứ phi pháp này của TC.
Trong khi chính phủ VN hiện nay có vẻ như chỉ làm lấy lệ, không dám cương định lập trường, thì nhiều hội đoàn, ủy ban ở hải ngoại đã dấn thân vào nỗ lực rất cần thiết, rất đáng khích lệ và rất đáng tham gia này.
Bối cảnh 1958
Trong nội dung thế giới năm 1958, bề rộng hải phận là một đề tài chiến lược, là lá chắn an ninh của các quốc gia ven biển, và là nhu cầu cấp thiết trước mắt mà nhiều quốc gia thấy cần phải lên tiếng xác định lập trường.
Lưỡng cực tư bản/cộng sản
Năm năm sau khi đình chiến ở Triều Tiên, và bốn năm sau khi VN bị chia cắt, năm 1958 được coi như là khởi đầu của tột đỉnh của xung đột lưỡng cực của hai phe thù địch tư bản/cộng sản, cụ thể là giữa Hoa Kỳ + Tây Âu và Trung Cộng + Nga Xô.
“Quốc phòng và an ninh lãnh thổ là mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia;
“Từ nhiều năm qua, Hoa Kỳ đã thực thi chiến lược ngăn chận cộng sản, qua ba liên minh phòng thủ: NATO ở Tây Âu (1949), SEATO ở Ðông Nam Á (1954) và CENTO ở Trung Ðông (1955, Hoa Kỳ tham gia 1958);
“Mười ba năm sau khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, việc phát triển kinh tế và mậu dịch quốc tế nói chung vẫn còn thô sơ, chỉ mạnh mẽ và năng động ở Hoa Kỳ, và bắt đầu vươn lên ở Tây Âu. Ở Á Châu thì con rồng Nhật Bản chỉ mới chập chững biết đi, chưa đủ sức cất cánh; các con rồng khác vẫn còn trong trứng nước. Thế giới cộng sản thì hoàn toàn riêng biệt, khép kín và vẫn còn nặng về nông nghiệp và kỹ nghệ cổ truyền. Giao thương giữa hai thế giới thì hầu như không có. Không mấy ai mơ tưởng nổi tới nền kinh tế toàn cầu hóa của thế kỷ 21 hiện nay;
“Tài nguyên mọi thứ đều dư thừa, giá rẻ, không ai quan tâm; đặc biệt là dầu hỏa, cầu ít cung nhiều. Bảy chị em (Exxon, Mobil, Chevron, Texaco, Gulf, Shell và BP) cùng nhau chế ngự thị trường dầu hỏa, định giá dầu thô lúc đó vào khoảng 2 Mỹ kim một thùng, sau khi tiếp tục giảm giá từ mấy năm trước. Phải chờ hai năm sau, 1960, tổ chức các quốc gia xuất cảng dầu hỏa OPEC mới được thành lập, với mục tiêu chính yếu là tranh đấu không cho các công ty hạ giá dầu thô thêm nữa;
“Một năm sau Sputnik, kỹ thuật vệ tinh hồi 1958 vẫn còn thô sơ, phi thuyền và GPS cũng chỉ có trong nghiên cứu; chiếc máy bay phản lực thương mại Boeing 707 đầu tiên cũng chỉ mới đang được lắp ráp;
“Tình báo và do thám là nhu cầu cấp thiết cho cả hai phe.
“Một phần do thám chiến lược của Hoa Kỳ lúc đó là do phi cơ bay cao U-2 đảm trách, nhưng xét cũng có nhiều rủi ro; chỉ một năm sau một chiếc đã bị Nga Xô bắn hạ.
“Nói chung, gánh nặng quốc phòng và do thám của Hoa Kỳ phần lớn là trách nhiệm của Hải Quân. Là cường quốc hải quân toàn cầu, Hoa kỳ có nhu cầu tàu bè đi khắp năm châu bốn bể, rảnh tay qua lại hơn 100 eo biển hẹp, và tự do tới sát bờ biển các nước duyên hải.
“Trong bối cảnh đó, chủ trương ưu tiên của Hoa Kỳ và Ðồng Minh là nguyên tắc hải phận càng hẹp càng tốt, không quá 3 hải lý.”
Chín năm sau khi chiếm được lục địa, thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, lãnh đạo TC vẫn còn như lúng túng về cả đối nội lẫn đối ngoại.
- Ðầu năm 1958 đánh dấu khởi công của “Bước Tiến Nhảy Vọt”, một sáng kiến của Mao Trạch Ðông nhằm nhanh chóng phát triển canh nông và kỹ nghệ ở khắp nước: thiết lập 750,000 hợp tác xã và 24,000 công xã cho khoảng 500 triệu dân. Gần như mỗi nhà bếp phải là một lò luyện sắt, luyện gang.
Nhưng chỉ trong vòng một năm thì kết quả thảm hại, hàng chục triệu người bị chết đói. Mao đã phải từ chức lãnh đạo chính phủ. Cả canh nông lẫn kỹ nghệ của TC đều tụt hậu.
- Tuy thế giới bên ngoài chưa biết nhưng lúc đó Mao đã bắt đầu bất đồng ý thức hệ với Nga sô; liên minh Trung-sô đã bắt đầu rạn nứt. TC càng quan tâm nhiều hơn về các vấn đề biên giới với Liên Sô và chư hầu trong lục địa, ở phía Bắc và phía Tây.
- Ðài loan vẫn là mối ưu tư lớn lao nhất. Hoa Kỳ là đối thủ hàng đầu vì Hoa Kỳ đã tiếp tục dùng thế lực để bảo vệ Ðài Loan và giúp Ðài loan phát triển kinh tế.
Trong tháng 8 năm 1958, TC đã liên tục bắn phá hai đảo Kim môn và Mã tổ. Hoa Kỳ phản ứng mạnh mẽ, và chính Tổng Thống Eisenhower đã lên tiếng xác nhận Kim môn và Mã tổ là bộ phận thiết yếu cho nền an ninh của Ðài Loan.
Mao đe dọa đổ bộ Ðài Loan thì quân đội Hoa Kỳ đã sẵn sàng đề nghị sử dụng bom nguyên tử cỡ 10-15 kiloton để trả đũa. Nhưng khi Hạm đội thứ Bảy hộ tống tàu tiếp vận Ðài Loan qua eo biển thì TC ngưng tiếng súng;
- Nói chung TC rất e ngại Hạm đội thứ Bảy, và đã đưa các hoạt động kỹ nghệ vào xa trong nội địa, tránh sự dòm ngó và đe dọa từ ngoài biển.
Năm 1958 là lúc TC hướng về nội địa, chú trọng ưu tiên bảo vệ ven biển và các đảo cận duyên. Do đó, TC đã quyết định lập trường hải phận càng rộng càng tốt, tối thiểu là 12 hải lý.
VNDCCH
Cai trị miền Bắc cũng chỉ mới được bốn năm sau hiệp định Genève 1954, VNDCCH cũng không tránh khỏi sai lầm trong đối nội, và thiếu kinh nghiệm trong đối ngoại.
- Chiến dịch cải cách ruộng đất mấy năm trước đã thất bại, gây bao phẫn uất trong dân chúng, và tạo bế tắc cho việc phát triển kinh tế.
- Cũng chỉ hai năm trước, chính phủ đã siết chặt gọng kìm cai trị, dập tắt các nhóm trí thức và văn nghệ Nhân văn Giai phẩm đòi tự do ngôn luận và sáng tác.
- Tiếp tục mưu đồ cộng sản hóa toàn nước Việt Nam, sau khi hiệp thương và tổng tuyển cử hai miền trong năm 1956 không thành, các lãnh đạo Hà Nội bắt đầu chuẩn bị tinh thần và kế hoạch để xâm chiếm miền Nam.
- Là một bộ phận nhỏ trong thế giới cộng sản, nền ngoại giao VNDCCH lúc đó thật là thô sơ, không được nhiều nước công nhận. Ngoại thương thì hầu như không có. Căn bản của ngoại giao là đi hàng hai với cả hai đàn anh cộng sản Trung-Sô để được cả hai viện trợ kinh tế trong hiện tại, và cầu giúp đỡ quân sự trong tương lai tiến chiếm miền Nam.
- Trong bối cảnh đó thì VNDCCH chỉ lập đi lập lại các quan điểm của Trung-Sô, và sẵn sàng nhanh chóng triệt để ủng hộ mọi lập trường của TC chống lại Hoa Kỳ và thế giới tự do.
Quy Ước Genève 1958 về Hải phận
Nói tới luật biển thì hầu như ai cũng nghĩ ngay tới UNCLOS, Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, kết quả của Hội nghị Liên Hiệp Quốc kỳ III, khởi công từ năm 1974 mãi đến năm 1982 mới xong, và hiện có hiệu lực từ năm 1994 sau khi có đủ túc số quốc gia phê chuẩn.
Thật ra, trước đó mấy chục năm, Hội nghị Liên Hiệp Quốc kỳ I về Luật Biển đã đạt tới được bốn quy ước về luật biển, ký năm 1958, làm cơ sở cho luật quốc tế về biển trong thời gian trước khi UNCLOS có hiệu lực. Nhưng bốn quy ước này không đáp ứng được những nhu cầu phức tạp và thay đổi nhanh chóng trong các hoạt động ở biển, nhất là hai vấn đề hải phận và thềm lục địa. Vì thế, Liên Hiệp Quốc đã triệu tập Hội nghị Luật Biển kỳ II cũng ở Genève năm 1960.
Họp chỉ được hơn một tháng, Hội nghị kỳ II này thấy hoàn toàn thiếu chuẩn bị nên đã vội vàng bế mạc để dành thì giờ bắt đầu tham khảo chi tiết và rộng rãi hơn, nhằm tổ chức hội nghị kỳ III. Mười bốn năm sau Hội nghị kỳ III mới khai mạc.
- Hội nghị Luật Biển kỳ I họp ở Genève từ ngày 24 tháng 2 đến ngày 29 tháng 4 năm 1958. Trước sau có 86 quốc gia tham dự. Cả TC lẫn hai miền VN đều không được mời tham dự vì không phải là hội viên Liên Hiệp Quốc.
- Vì luật biển là đề tài quá mới mẻ đối với nhiều quốc gia, trong khi Hoa Kỳ là cường quốc có-một-không-hai lúc đó nên ảnh hưởng của Hoa Kỳ ở hội nghị rất lớn, nhưng tuy lớn mà cũng không áp đặt được mọi điều khoản.
- Hội nghị thông qua bốn quy ước, về (1) đại dương, (2) hải phận và vùng tiếp cận, (3) thềm lục địa, và (4) đánh cá và bảo tồn tài nguyên sinh sống ở đại dương.
Các quy ước này đã trở thành Quy ước Quốc tế về Luật Biển sau khi có đủ túc số quốc gia phê chuẩn, lần lượt vào các năm 1962, 1964, 1964 và 1966.
- Bề rộng hải phận là vấn đề then chốt và gây sôi nổi nhất ở hội nghị.
Lập trường 3 hải lý của Hoa Kỳ tuy chiếm đa số quá bán nhưng lại không đủ túc số 2/3 để được chấp thuận trong quy ước. Trong tổng số 75 quốc gia cho biết lập trường lúc đó thì có 45 quốc gia công nhận 3 hải lý; 4 quốc gia 4 hải lý, 15 quốc gia 5-10 hải lý, 9 quốc gia 12 hải lý, và 2 quốc gia 200 hải lý.
Vì không đủ túc số nên bản văn của Quy ước Genève không hề ấn định rõ bề rộng của hải phận. Phải chờ 24 năm sau UNCLOS mới ấn định bề rộng là 12 hải lý.
Hoa Kỳ vẫn tiếp tục giữ lập trường hải phận 3 hải lý từ năm 1958 mãi cho đến năm 1988 mới công nhận 12 hải lý, mặc dù đến nay Hoa Kỳ vẫn chưa phê chuẩn UNCLOS vì lý do khác.
Trung Cộng ra tuyên bố một mình
Sau khi hoàn tất xong các văn bản ngày 29 tháng 4 năm 1958, các Quy ước Genève về Luật Biển khởi sự chấp nhận chữ ký của đại diện các quốc gia tham dự trong thời hạn 6 tháng, và dự trù sẽ khóa sổ ngày 31 tháng 10 năm 1958.
Thông thường, ngay sau khi ký vào các Quy ước, các đại diện có dịp trình bày để ghi vào hồ sơ chính thức của hội nghị các lập trường của nước mình, đặc biệt là lập trường về bề rộng của hải phận.
TC không được tham dự hội nghị, cũng không được góp ý về các điều khoản. Nay TC lại không được dịp ký kết các Quy ước, và không có cơ hội trình bày trước công luận các lập trường về luật biển của mình, nhất là lập trường về bề rộng hải phận 12 hải lý, đối nghịch với lập trường 3 hải lý của Hoa Kỳ và đa số quốc gia khác.
Trung Cộng quyết định ra tuyên bố một mình, vào ngày 4 tháng 9, trước ngày khóa sổ ký kết cuối tháng 10.
Sau khi TC ra tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 thì có hai đáp ứng đáng lưu ý:
Cùng ngày 4 tháng 9 theo giờ Hoa Thịnh Ðốn, chính Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Foster Dulles lên tiếng phản đối tức khắc bản tuyên bố, và tuyệt đối không công nhận quyết định bề rộng hải phận 12 hải lý của TC. Tưởng cũng cần ghi nhận Ngoại Trưởng Dulles là người có lập trường cương quyết chống cộng, và là người đã từ chối không chịu bắt tay Chu Ân Lai ở Genève hồi 1954.
Mười ngày sau, VNDCCH gởi cho Chu Ân Lai công hàm ủng hộ của Phạm Văn Ðồng
No comments:
Post a Comment