Wednesday, July 5, 2017

NHÁNH CỎ MỘNG MƠ (2) - DUYÊN ANH


Buổi chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975, Chương còm, Dzũng Đakao, Hưng mập, Bồn lừa, ngồi nghỉ chân ở vườn sao, trước dinh Độc Lập, sau nhiều giờ chạy bộ đây đó xem cộng sản vào Sàigòn. Truyền thống của dân Sàigòn là đổ xô ra đường coi đảo chính, chỉnh lý, cách mạng, dù vừa coi vừa tránh đạn nổ. Mọi biến cố, đối với dân Sàigòn, đều chỉ là trò giải trí hồi hộp, thích thú. 
Sáng hôm qua, bốn đứa trẻ đến Tòa Đại sứ Mỹ ngắm cảnh di tản. Trên nóc cái bin-đinh vĩ dại, trực thăng lên xuống tíu tít. Lá cờ sao sọc đã hết bay ngạo nghễ. Nó hết thời bay trong nắng gió miền Nam. Nó bị cuốn gói lại để… go home mà nằm rên rỉ nỗi đau thua trận và niềm ăn năn phản phúc ghi dấu ấn nổì bật trong lịch sử nước Mỹ cọp giấy. Dưới sân phủ Thái Thú Hoa kỳ “chiến sĩ đồng minh” thủy quân lục chiến lẫy lừng, áo giáp tay trần, kè kè MI6 gắn lưỡi lê láng cóng, mắt kên kên như trung úy Calley tàn sát làng Mỹ Lai, miệng hét, chân đạp dân Việt Nam ùa vào cổng tìm đường cút chung với người Mỹ chiến bại. Đến chiều, bốn đứa ra bờ sông “thưỏng thức” màn tướng tá, dân biểu, nghị sĩ, chính khách chạy tháo mạng, xô đẩy nhau, chửi bới nhau. Để lên tàu ra đi… cứu nước ! Bọn nhóc đã cười muốn vỡ bụng.
Dzũng Đakao hỏi Chương còm:
– Này, có một ông tướng tuyên bố vung vít ởTân Sa Châu, mày nhớ chứ ?
Chương còm đáp :
-Nhớ.
– Ông ta hò hét kỹ quá. “Tôi là dân Việt Nam, tôi quen ăn cơm với dưa cà, mắm tôm rồì. Tôi ở lại, tôi không đi đâu cả. Tôi ở lại chiến đấu với dân tộc tôi. Những đứa chạy trốn sang Mỹ, đàn ông thì làm cu ly, đàn bà thì làm đĩ! Người hùng nói bảnh ghê !
– Bảnh miệng. Ông ta chuồn rồi.
– Đi đâu ?
– Sang Mỹ.
– Làm gì ?
– Thì như ông ấy tuyên bố!
– Còn bà ấy ?
– Bà ấy không thể làm khác lời dạy bảo của ông ấy đâu.
Hưng mâp ngứa miệng:
– Bọn tướng phường chèo ấy ra cái mẹ gì ! Xưa đã có anh tướng mê cải lương, đi coi hát về, bị cướp nó dí gáy bằng súng gỗ mà còn thua nữa là !
Bồn lừa cười ha hả.
– Thử cho ông làm tướng coi. Ông sẽ là Nguyễn Tri Phương, là Hoàng Diệu… Tướng bỏ lính chạy trốn trước khi ban lệnh đầu hàng là tướng đào ngũ. Loai tướng đào ngũ, tòa án quân sự nào xử đây ? Ngồi xử lính đào ngũ thì cứ như. . . tướng ! Chạy trốn thì cứ như bố con chó xồm !
Bốn đứa nhóc đua nhau công kích tướng cải lương, tướng hát bội. Chập tối, chúng về Xóm Lách. Ở đây, chúng gặp đoàn xe tăng của ta chạy trên đường Công Lý. Có một chiếc hư xích. Đoàn xe ngừng tất cả. Người lính thiết giáp mở nắp xe, nhảy xuống với cái búa to, cán dài. Binh tỉnh, ngườ lính không biết chạy trốn vung búa sửa xe. Mồ hôi chẩy nhễ nhại, người lính nhe răng cười với bốn ông nhóc. Mười phút sau, đoàn xe tăng lồm cồm bò lên phiá dinh Độc Lập. Lúc này, trực thăng tới tấp bay quanh dinh Thái Thú Mỹ. Bọn nhóc chia tay nhau, hẹn sáng sớm mai gặp lại.
Sáng hôm sau, không khí thành phố ngột ngạt. Lệnh giới nghiêm coi bộ ít ai tôn trọng. Rồi lệnh đầu hàng của Dương văn Minh phóng ra y hệt bãi đờm khạc lên lịch sử đấu tranh hai mươi năm. Chương còm đợi bạn. Quá 10 giờ mà chẳng đứa nào đến. Vừa khi ấy một toán lính biệt kích thất thểu đi ngang. Những người lính đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, trần xì chiếc áo giáp , súng mang vai chúc mũi xuống chân. Khuôn mặt họ buồn thảm đau đớn. Chương còm cảm giác mũi dao đâm sau lưng nó. Nó đã hiểu ý nghĩa sầu tủi dằng dặc, mênh mang của chiến bại. Một bà mẹ nhận ra con mình trong toán lính thất thểu, nhào tới ôm con:
– Con ơi, hòa bình rồi, hết chiến tranh rồi, con về với mẹ đi !
Người lính cầm tay mẹ, nước mắt ròng ròng:
– Con không thể về được, mẹ ơi !
Bà mẹ khóc ròng :
– Về đi, hòa bình rồi mà , con .
Người lính gỡ tay mẹ mình ra:
– Mẹ về đi, con phải theo các bạn con.
– Đi đâu ?
– Con không rõ. Con phải đi, con không thể về.
Bà mẹ đành đứng ôm mặt sụt sùi. Người linh bước vài bước, quay lại:
– Mẹ cố sống, thế nào con cũng về. Con đi để con về, mẹ ạ !
Rồi anh chạy nhanh bắt kịp đồng đội. Chương còm ứa nước mắt trông theo.. Người lính dũng cảm, trung thành ! Tại sao anh không chạy trốn ở phi trường, ở Tòa Đại Sứ Mỹ, ở bờ sông ? Tổ quốc đã cho anh cái gì ? Dân tộc đã cho anh cái gì ? Ngôi sao nào trên cầu vai anh, trên mũ anh ? Bảo quốc huân chương nào, Bắc đẩu bội tinh nào trước ngực anh ? Chương còm muốn hỏi nhiều, thật nhiều…
Ba thằng bạn đã tới. Và bọn nhóc chạy vút lên đường Hồng Thập Tự, rẽ trái, hướng cầu Thị Nghè. Đạn nổ vang dội ở bên kia cầu. Nấp dưới gốc cây ngã tư Nguyễn Bỉnh Khiêm – Hồng Thập Tự, dân chúng xem trận thư hùng giữa xe tăng cộng sản và lính văn nghệ của Cục Tâm Lý Chiến. Những người lính đàn, lính sáo có một số phận hẩm hiu là bị gác cầu Thị Nghè cho các quan chơi bạc trong Cục. Bất ngờ giặc đến. Đại tá Cục trưởng thi sĩ đã đào ngũ từ … 27-4 ! Lính đàn sáo bỗng điếc, không thèm nghe lệnh đầu hàng. Họ chiến đấu. Và họ gục ngã trên cầu Thị Nghè. Và hai xác xe tăng bốc cháy. Người lính đàn sáo, tại sao anh không chạy trốn ở phi trường, ở Tòa Đại sứ Mỹ, ở bờ sông ? Tổ quốc đã cho anh cái gì ? Dân tộc đã cho anh cái gì ?
Bốn ông nhóc đã quên hẳn bọn tướng phường chèo. Quân đội hào hùng của ta không phải là bọn tướng, bọn quân phiệt. Quân đội của ta là lính. Chúng chạy về Sàigòn. Bây giờ, chúng ngồi nghỉ chân trên ghế đá vườn sao, ngắm tượng ông Trương Vĩnh Ký. Trời ảm đạm như thể trời đeo khăn tang. Ba giờ mà chả có tí nắng nào.
– Liệu còn chơi nhau nữa không nhỉ ?
– Chơi chứ.
– Mình đếch được chơi, buồn ghê .
– Rồi mình sẽ được chơi.
– Cậu tao chuồn rồi, đang nằm ở nhà, sợ toát xì cấu.
– Anh tao liệng lon, quăng súng lục. Mẹ tao dấu anh trên căn gác xép.
– Tại sao mình thua ?
– Vì chúng ta còn nhóc.
– Bọn nó cắm cờ ở Gia Định rồi.
Hai chiếc xe cam nhông, từ đâu không rõ, chạy tới đậu ngay chỗ bùng binh, sau nhà thờ Đức Bà. Lính trên xe nhẩy hết xuông. Dzũng Đakao vui mừng:
– Lính nhảy dù !
Bốn ông nhóc đứng dậy, tiến sát lề đường Những thiên thần mũ đỏ còn nguyên vẹn là thiên thần. Vị đại úy chỉ huy rất trẻ, mai vàng rực rỡ trên cổ áo. Ông cầm cây gậy nhỏ, say mê nhìn quốc kỳ ủ rũ trên nóc Dinh Đôc Lập. Rồi ông xoay lưng lại, quan sát phiá Phủ Thủ Tướng. Ông hơi cúi đầu giây lát. Đoạn, ông ngó thẳng chiến hữu của mình, dõng dạc nói:
– Lần cuối cùng tôi nhắc nhở anh em: Dương Văn Minh đã đầu hàng. Nhiệm vụ của anh em chấm dứt. Ai muốn về nhà cứ thản nhiên về. Anh em không nợ nần gì Tổ Quốc nữa.
Những người lính nhảy dù đứng nghiêm, đồng loạt trả lời:
– Chúng tôi ở lại chiến đấu với đại úy. Vì danh dự của người lính.
Đại úy dơ tay chào:
– Cám ơn anh em. Chúng ta chuẩn bị nghênh địch.
Dzũng Đakao, Chương còm, Hưng mập, Bồn lừa phóng tới ôm chặt lấy vị đại úy.
– Thưa chú, tên chú là gì ? Chương còm hỏi.
Vị đại úy xoa đầu bốn ông nhóc, giọng cảm động:
– Lính nhảy dù. Mà cháu hỏi tên chú làm chi ?
Chương còm nắm tay vị đại úy:
– Mai này, tên chú sẽ thay tên đại lộ Thống Nhất. Chú tin không ?
Vị đại úy chớp mắt:
– Chú tin, thế hệ các cháu phải làm lại lịch sử, phải xóa bỏ dấu tích ô nhục hôm nay.
Dzũng Đakao nói:
– Chúng cháu đặt tên chú cho con đường này. Chú cho biết tên chú đi.
Vị đại úy vỗ nhẹ vai Dzũng Đakao :
– Tên chú gắn liền với lính nhảy dù. Lính nhảy dù là tên chú. Các cháu nhớ đặt tên đại lộ này là Đại Lộ Mũ Đỏ nhé! Bây giờ chạy thật nhanh về nhà. Sắp nổ súng.
Bồn lừa hỏi:
– Cháu có thể giúp chú việc gì ?
Vi đai úy lắc đầu:
– Các cháu đã giúp chú rồi, đã làm tăng ý nghĩa chiến đấu của chú, đã sưởi ấm lòng chú, chú không còn cô đơn nữa. Nào, chạy lẹ, các cháu yêu dấu. ..
Bốn ông nhóc co cẵng chạy. Nhưng chúng không chạy về nhà, mà núp dưới gốc cây đầu đường Alexandre de Rhodes. Phía bên kia, đường Hàn Thuyên, dân chúng cũng đang lấp ló dưới những gốc cây sao. Nhiều người vào nhà thờ Đức Bà để xem chiến tranh qua kẽ hở của mấy khung cửa bên hông. Nhiều người tụ tập ở sân Bưu Điện. Xe tăng cộng sản, từ xa lộ Biên Hòa, vô Sàigòn hai lối. Lối thứ nhất: Hàng Xanh, qua Gia Định, qua đường Chi Lăng, đường Võ Tánh đến Tổng Tham Mưu, rẽ trái, qua đường Cách Mạng, qua cầu Công Lý. Rồi chạy thị uy khắp phố Sàigòn. Hơn hai giờ trưa, xe tăng vô lối này đã xuất hiện. Lối thứ hai: Thị Nghè, qua cầu Thị Nghè (bị chặn đánh). Mãi gần bốn giờ mới lại qua cầu Thị Nghè, qua Hồng Thập Tự rẽ trái, qua Nguyễn Bỉnh Khiêm, rẽ phải, qua Thống Nhất để vào Dinh Độc Lập.
– Xe tăng cộng sản rét rồi.
– Bọn điên ấy không rét dâu.
– Bao giờ chúng đến ?
– Cứ từ từ.
Vị đại uý đứng ngạo nghễ giữa đại lộ Thống Nhất. Khẩu colt của ông trệ xuống bên đùi. Lính của ông đứng sau những thân cây sao với tư thế sẵn sàng khạc đạn.
– Chú ấy oai quá.
– Cứ như shérif đợi bọn cướp.
– Tao hồi hộp thấy mồ.
– Im lặng.
– Thằng nào chạy ra, ngó xuống Sở Thú xem chúng nó vô chưa ?
– Tao.
– Để Bồn lừa đi. Mầy mập chạy đâu nổi, Hưng.
Bồn lừa cắm cổ chạy, ra đường Thống Nhất. Nó chạy vào ngay, hổn hển:
– Rồi, rồi, sắp tới !
Tiếng xe tăng nghiến xích sắt trên đường nhựa nghe rõ dần rồi sôi sục trong tâm hồn bốn ông nhóc. Như chính mình tham dự trận đánh, Dzũng Đakao hét:
– Nó kia kìa !
Chiếc xe tăng dẫn đầu đã đến bùng binh. Nó có vẻ làm bộ làm tịch. Nó có vẻ khinh khi , ngạo mạn. Đằng sau nó, bộ đội nón cối, dép râu, ngụy trang cành lá trông dễ ghét. Chúng ôm súng AK lò mò y hệt chúng diễn trò khỉ. Vị đại úy đâu rồi ? Chiếc xe tăng thứ hai lừ lừ bò ở cửa Bộ Tư Pháp. Một phát súng nổ. Lính nhảy dù xuất hiện. Không thèm nấp, không thèm nằm, linh nhảy dù đứng thẳng, bước tới, chắc tay súng, nhằm xe tăng và kẻ thù nhả đạn xối xả. 
Vị đại úy đó, thần tượng của Dzũng Đakao, Chương còm đó, sát cánh chiến hữu, phóng nhiệt tình và danh dự vào trận chiến cuối cùng. Để trả lời thế giới: Chúng tôi không đầu hàng. Mỹ và bọn tướng phường chèo khiếp nhược đầu hàng, lính Việt Nam không biết đầu hàng.. Chiến trường kết thúc mau lẹ. Vị đại úy và hơn ba mươi người lính nhảy dù gục chết trên đại lộ Thống Nhất. Máu của họ, máu Việt Nam anh dũng, bất khuất đã thấm đỏ đường chiến lịch sử tháng 4 . Lính nhảy dù, tại sao anh không chạy trốn ở phi trường, ở Tòa Đại sứ Mỹ, ở bờ sông ? Tổ quốc đã cho anh cái gì ? Dân tộc đã cho anh cái gì ? Ngôi sao nào trên cầu vai anh, trên mũ anh ? Bảo quốc huân chương nào, Bắc đẩu bội tinh nào trước ngực anh ?
– Thế là xe tăng nó vào Dinh Độc Lập !
Bốn ông nhóc, nước mắt đầm đìa, thằng nọ nhìn thằng kia mếu máo.
Xe tăng nghiến lên xác chết của lính nhảy dù. Chúng nó thù cả xác chết. Bọn bộ đội phân tán, bao quanh khu vườn sao. Dzũng Đakao và Chương còm muốn tới vuốt mắt vị đại úy và những người lính cũng không được. Chương còm thầm thì:
– Vâng, mai này, đại lộ này mang tên Mũ Đỏ và chỗ các chú chết sẽ là Đài Tưởng Niệm Anh Hùng. Cháu hứa, các cháu hứa.
Bốn ông nhóc bỏ về. Trên nóc Dinh Độc Lập, quốc kỳ đã bị hạ. Môt thứ cờ quái đản thay thế. Cờ trên xanh, dưới đỏ, giữa sao vàng ! Lịch sử dân tộc biến đổi từ giây phút ấy. Và cũng từ giây phút ấy, Dzũng Đakao, Chương còm, Hưng mập, Bồn lừa, Tiến gầy, Ngân quắn, những đứa trẻ không muôn lớn, đã lớn, đã phải lớn. Bằng nước mắt từng ngày.
Bốn đứa trẻ uể oải bước. Mầu chiều xám xịt. Trên hè phố, bất cứ phố nào, đầy súng đạn, quân trang. Ai muôn bắn, cứ việc lượm M16 mà bắn. Bắn từng viên hay cả tràng, tùy ý. Nhắm giây điện thoại mà bắn. Nhắm bóng đèn mà bắn. Thành phố đốt pháo bằng đạn… chiến bại. Nhiều khuôn mặt lăng xăng, hớn hở. Nhiều khuôn mặt ủ ê, lo lắng. Cách mạng thành công lớn. Mỹ cút, Ngụy nhào. Đấy, mũ sắt, giầy đinh, giây lưng nhãn hiệu USA chất đống vỉa hè, miệng cống. Ngã tư, ngã sáu, đèn đỏ đèn xanh tự do chớp nháy. Cảnh sát được. . . giải phóng rồi. Cảnh tượng hổn loạn, buồn tênh. Đầu đường, góc phố, lổn nhổn bọ gậy, tay đeo băng đỏ, miệng líu lo ngôn từ mới.
Bồn lừa và Hưng mập chia tay Dzũng Đakao và Chương còm ở cuối đường Duy Tân. Đã bắt đầu là lạ. Chương còm mơ hồ cảm giác một phân cách gần kề. Trước đây đâu có đứa nào buồn. Sau mỗi cuộc chơi là mỗi bão cười, giông nghịch. Bây giờ, đứa nào cũng dễ khóc, mà lại khóc những chuyện của người lớn.
Ngày mai nước mắt cho chuyện gì ?
– Chương ơi, niên học tới mày còn đến trường không ?
– Chưa biết, Dzũng ạ !
– Bạn bè mình di tản nhiều lắm.
– Ừ.
– Nhập học mình mới biết thằng nào đi thằng nào ở lại. Rồi chúng mình ra sao ?
– Tao nghĩ là chúng mình sẽ hết trò chơi.
– Đừng lo. Chúng mình sẽ bày trò chơi mới.
– Sân chơi không còn của chúng mình nữa đâu. Mày thấy đó, mầy thằng lõi đeo băng đỏ đã dọa đưa mình vào… đoàn thể! Mấy mệt không ?
– Không .
– Dám di chơi suốt đêm với tao chứ ?
– Sợ gì !
– Tao muốn trở lại vườn sao xem chúng nó đưa xác chú đại úy đi đâu.
– Phải kiếm cục phấn.
– Làm gì ?
– Viết tên đường Mũ Đỏ.
– Máu các chú ấy đã viết rồi. Ít nữa, mình chỉ việc dựng biển.
Hai đứa vào Hiền Vương ăn phở gà. Đài phát thanh loan báo lệnh giới nghiêm. Vậy là hết lên vườn sao. Sáng mai có mít-tinh tuần hành kỷ niệm 1-5. Dzũng Đakao đành tạm biệt Chương còm, hẹn gặp lại dịp khác.
Một mình Chương lầm lũi đi trên vỉa hè giải phóng. Chương còm muốn đi mãì, đi mãi. Nó không thích về nhà, lúc này. Nhà nó bị phong toả đầy phiền muộn. Ông ngoại nó sợ giải phóng truy lùng, không dám về Long Xuyên, trốn ở nhà nó. Mẹ nó sợ giải phóng đem bố nó ra xử tử. Bố nó thì cứ tỉnh khô, ngồi uống rượu, hút thuốc và ngâm thơ. Và lè nhè: sống chết có số!
Dù không thích về nhà, Chương còm cũng phải về. Khi cánh cổng hé mở, Chương còm thấy cái sân nhà mình rộng mênh mông. Nó giật mình. Bên ngoài, người ta đang hát bài ca chống Mỹ cứu nước!

Friday, June 30, 2017

NHÁNH CỎ MỘNG MƠ (1) DUYÊN ANH


1
Bây giờ thì Chương còm đã biết mặt đại dương sau trùng trùng hồi hộp, lớp lớp lo âu. Chiếc thuyền ra khơi hai ngày rồi. Nó đang lênh đênh ngoài hải phận quốc tế và xuôi về phía Nam. Chẳng còn sợ tầu tuần tiểu của công an biên phòng hay tầu đánh cá quốc doanh rượt bắt nữa. Cũng chẳng cần sợ hải tặc Thái Lan hèn hạ vì chẳng có vàng bạc, châu báu gì trong thuyền của hai mươi ba ông nhóc. 
Nỗi sợ hãi, lúc này, chỉ là sự biến chứng thình lình của trùng khơi. Biển hiền lành. Biển trầm lặng. Nhưng, bất chợt, rất vô duyên cớ, biển nổi giận, biển gầm thét, biển hung hăng, biển độc ác. Và gặp cơn điên của biển, số phận thuyền nhân đánh đu tội nghiệp trên sóng bạc đầu; thân phận thuyền nhân rẻ rúng hơn cả tấm mảng mục vật vờ trôi. Giữa đại dương bao la, mênh mông, con người là cái gì nhỉ? 
Chương còm tự hỏi thế! Thủ môn tuyệt vời của đội bóng tròn Việt Nam mơ ước năm xưa, đội bớng tròn với những ngôi sao bắc đẩu Bồn lừa, Dzũng Đakao, Hưng mập đã làm ngây ngất thế giới, đã rửa mối hận nước nhỏ nghìn năm mất nước, trăm năm nô lệ, đã bắt nhân loại phải chiêm ngưỡng Việt Nam và lịch sử lập quốc vĩ đại của người Việt Nam, tự nhiên, đặt cho mình một câu hỏi màu mè riêu cua triết lý, câu hỏi mà, trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, Chương còm, vị anh hùng diệt tan giặc Thiện Mông Cổ, rồi dán Bình Mông Đại cáo ở cổng cư xá Chu Mạnh Trinh; Chương còm, tên lính Mơ thành người Quang Trung khiến mấy lỏi tì Mỹ Bill, Jack phục sát đất, không nghĩ tới, suốt đời không nghĩ tới, bởi vì Chương còm được xếp vào loại những đứa trẻ không muốn lớn. 
Vậy mà Chương còm đã lớn. Nó đã lớn với kinh qua buồn thảm của lịch sử dân tộc.. Nó đã biết mất mát, đã biết chia lìa, đã biết nghiến răng chịu nhục. Và, biết giá trị của giòng nứớc mắt đêm hôm quân dữ còng tay bố nó đem đi phát vãng.
– Chả là cái gì cả !
Chương còm hét lớn.
– Mày nói chi thế Chương còm ?
Liêu rái cá vỗ vai Chương còm thật mạnh.
– Tao nói con người.
Liêu rái cá nhe răng cười.
– Con người à ? Vớ vẩn !
Chương còm bỉu môi :
– Con người chỉ được cái nước nói phét, chỉ được cái nước trả thù nhau vụn vặt, bỏ tù nhau, giết lẫn nhau, nói xấu nhau, suy tôn lẫn nhau là anh hùng, liệt sĩ. có giỏi đi biển bằng thuyền nát như tụi mình, có giỏi ra khơi mà giải phóng bão biển. Ra khơi, thì ra khơi coi, mày sẽ hết vĩ đại, mầy sẽ thấy mày bé tí teo, mày sẽ khiếp nhược, mày sẽ sợ chết và, may ra, mày sẽ liệng nổi những ti tiện, đố kỵ, hèn mọn to hơn cả cái thân xác mày xuống biển nếu biển không nỡ hại mày , con người ạ !
Liêu rái cá ngơ ngác nhìn bạn. Nó chép miệng:
– Mày nhớ nhà quá, khùng rồi, hả ?
Chương còm gật đầu:
– Ưà, tao khùng rồi.
Liêu rái cá bỏ mặc Chương còm trên nóc thuyền. Nó leo xuống và chui vào buồng may đo dầu nhớt. Một mình, nằm gối đầu lên chiếc phao, chân đụng ống khói, Chương còm mở căng mắt ngắm sao lấp lánh đầy trời. Đất liền, ở quê hương, đang còn mùa xuân. Biển đêm xuân không lạnh lắm. Mây ham ngủ nên bầu trời vằng vặc. Chương còm tha hồ nhìn sao rơi. Nó hình tưởng một phương hướng Sàigòn và chấm điểm căn nhà đường Công Lý, nơi mẹ nó thức hết đêm này sang đêm khác, thắp nến, lần chuỗi, cầu nguyện Đức Mẹ Hằng Cưú Giúp, nước mắt đầm đìa trên khuôn mặt hốc hác phiền tủi, mong nó đến đảo bình yên sẽ đánh điện về; nơi em gái và em trai nó chưa ngủ, tay vẫn nắm chặt sách kinh. 
Rồi Chương còm chấm điểm khám Chí Hòa, nơi bố nó nằm thao thức trong xà lim nghe thời gian nhỏ giọt cường toan xuống một đời tài hoa chìm nổi. Chương còm không quên chấm điểm con phố nhà Dzũng Dakao, nhà Hưng mập, nhà Bồn lừa… Vậy đó, người ta sinh ra, lớn lên, gần gũi và xa cách. Những nụ cười hôm qua là những giọt nước mắt hôm nay. Sự hồn nhiên của tuổi thơ bị cướp đoạt và bị thay thế bằng thù hận gớm ghiếc. Trong đôi mắt nai tơ, một chút tinh nghịch của Chương còm đã vướng khói u ẩn và, thảm chưa, phẫn nộ. Và Chương còm biến thành thuyền nhân.
Thuyền nhân? Chương còm thường nghe đài BBC với mẹ để biết tin tức của những người vượt biển. Và nó được nghe ông Vĩnh Phúc luận về hai tiếng thuyền nhân: Mỗi thời đại đều sản sinh ra một loại ngôn ngữ mới lạ và kỳ thú. Thời đại của chúng ta cũng đã sản sinh ra nhiều danh từ như cộng sản, tẩy não, cải tạo, di tản, sang trang, phản phúc vân vân… 
Những danh từ nói trên chỉ gợi tưởng đói khổ, chết chóc, bịp bợm. Chúng sẽ chịu dâu biển của ngôn ngữ. Để tuyệt tích. Nhưng có một danh từ tuyệt vời, chấp mọi dâu biển của ngôn ngữ, đời đời kiếp kiếp nằm trong tự điển của loài người, đó là thuyền nhân. Không ai dám tự hào mình định nghĩa nổi hai tiếng thuyền nhân, nếu chưa từng là thuyền nhân. Và ngay cả cá nhân thuyền nhân vẫn khó lòng định nghĩa bao quát. 
Mỗi chiếc thuyền rời khỏi bờ bến Việt Nam là một cuốn sách dài định nghĩa những toan tính bí mật, những khởi sự khốn khổ, những lường gạt đau thương, những phản bội ứa máu, những thất bại não nề, những thành công cay đắng. 
Hương mê của thuyền nhân là nó hiện trước mắt nhân loại những con người yêu tự do đến độ coi thường lửa đạn rượt đuổi, khinh nhờn cuồng sóng biển khơi nuốt mạng, thách thức hải tặc vô tri chém giết, hảm hiếp, trên những chiếc thuyền gỗ chạy đường sông và cả xuồng đuôi tôm bơi đường kinh lạch, hiên ngang vượt đại dương! Lịch sử hàng hải từ khai thiên lập địa chưa hề thấy dân tộc nào dám vượt đại dương bằng thuyền mục như dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ thứ hai mươi, thế kỷ của tàu ngầm nguyên tử. Vượt với đàn bà mang thai và con nít ngậm núm vú. Vượt với “thuyền trưởng” không biết chấm tọa độ trên bản đồ. Vượt với cạn dầu máy chết. Vượt với ráo nước khô họng. Vượt với lòng quả cảm phi thường, vượt với ước mơ. Vượt với sự ngó lơ của tầu to nước lớn.
Chương còm co cẳng thật nhanh. Bàn chân nó vừa đụng vào ống khói nóng ran. Nó xuýt xoa tí ti rồi mỉm cười với sao: Xưa ông đá bóng hạ Ba Tây, hạ Anh quốc như ngoé; ông diệt Thiện Mông Cổ, ông bóp mũi nhóc Mỹ. Nay ông là thuyền nhân, ông sợ quái gì con nhà Thái Bình Dương, mày có thể sẽ nuốt ông đấy, nhưng đại dương ạ, ông đã ngồi trên mặt mày: ông đang ngồi trên mặt mày đây! Ý nghĩ thật hách: Thằng nhóc Việt Nam dám sỉ nhục biển cả, dám đụng đến niềm im lặng thiêng liêng của biển cả mà tầu ngầm nguyên tử vẫn còn phải tôn kính; mà những bộ óc ghê gớm ngồi trong tàu ngầm nguyên tử vẫn phải làm dấu, đọc kinh.
Ngồi trên mặt đại dương. Chương còm lại vinh tôn con người rồi. Nó vừa bảo con người chả là cái gì. Có lẽ, Chương còm muốn nói tới cái hạng con người nhỏ mọn, trái tim rỗ nhằng rỗ nhịt những tham vọng tầm thường, những thủ đoạn hôi hám, suốt đời chỉ biết nghĩ cách hạ người khác để vươn lên; bôi bẩn người khác để xức nước hoa cho mình; ăn cắp, ăn cướp công lao của người khác để hưởng thụ phè phỡn. Chương còm đã lớn, đã khôn -sự khôn ngoan tội nghiệp- nhưng chưa hiểu chính xác cái ý nghĩa khôn cùng của con người. Con người có hai mặt. Mặt tồi tệ của nó, Chương còm đã khinh bỉ. Mặt cao quý của nó, Chương còm vừa vinh tôn. Vinh tôn bằng ngôn từ mới, bằng tấm lòng phẳng phiu, lành lặn, độ lượng và hào hùng.
“Ông đã ngồi trên mặt mày”. Chương còm đã ngồi trên mặt đại dương, trên mọi cuồng nộ, hung hăng, độc ác của thiên nhiên. Nó cũng sẽ ngồi lên trên mặt mọi cuồng nộ ghen tuông, hung hăng đố ky và độc ác mồm miệng của người đời. Chương còm thừa can đảm đi tới. Nó có quyền ngạo nghễ với một tuổi thơ rộn ràng bướm bay chim hót, một tuổi thơ ngọt ngào thương yêu, chứa chan tình bạn. Nó có quyền kiêu hãnh với một niên thiếu ngậm ngùi nghịch cảnh, môt niên thiếu bị cuốn hút vào khúc rẽ quạnh hiu của lich sử! Để làm thuyền nhân buồn bã.
Cảm khái, Chương còm rút cây kèn harmonica đặt lên môi và lướt nhanh vài lần. Nó ngừng lại, nghĩ xem bài nào hợp cảnh hợp tình. Khoảnh khắc, tiếng kèn harmonica của Cương còm đã cùng với ánh sao, trải dài trên mặt biển. Đêm ngoan. Biển hiền. Gió lười. Sóng biếng. Tiếng máy thuyền nổ xình xịch, xình xịch vẫn không thể át nối tiếng harmonica quyến rũ của Chương còm. Bọn nhóc mê Chương còm từ dưới khoang thuyền trèo lên. Chương còm vẫn nằm ngửa, mắt nhìn sao và đưa đẩy tiếng kèn theo hòa âm của biển khơi hun hút.
Liêu rái cá cao hứng cất giọng hát:
Ra khơi biết mặt trùng dương
biết trời mênh mông
biết đời viễn vông
biết ta hãi hùng.
Ra khơi thấy lòng phơi phới
thấy tình thế giới
thấy mộng ngày mai
thấy niềm tin mớí
…..
Ra đi nước trời bao la
hết cuộc phong ba
đất liền Âu Á cũng không xa gì
Phiêu du khắp nẻo đây đó
bỗng người say sưa
thấy hoàn cầu mở khúc đại tình ca…
Bọn nhóc khoái chí bèn chơi hợp ca:
Hãy ghé bến bờ
Có những xóm dừa
Chiều nhuộm vàng làn tóc ngây thơ

Viễn xứ ước thề
Xóa hết lốí về
Để đẹp lòng người bước chân đi. . . .
Tiếng hát của những thuyền nhân nhỏ con vang vọng, lan toả. Chúng nó quên mất rằng chúng nó đang lênh đênh trên Thái Bình dương. Biển khơi, có thể sắp nổi giận. Sóng gió, có thể sẽ đánh đắm thuyền của chúng nó. Mặc kệ, ông tưởng ông vui đùa trên một giòng sông êm đềm ở quê hương yêu dấu của ông. 
Chương còm thả hồn vào âm thanh lưu luyến. Nó chợt nhớ mùa hè năm xưa, cùng Dzũng Đakao, Bồn lừa, Hưng mập, Danh ná bơi thuyền trên giòng An Giang, trên những kinh lạch làng Chắc Cà Đao thơ mộng và Chương còm đã thổi harmonica cho Danh ná hát bài quê hương tôi có con sông đào xinh xắn, nước tuôn trên đồng ruộng vắn, lúa thơm cho đủ hai mùa… Tự nhiên, Chương còm ngồi dậy. Chiếc kèn chưa rời khỏi đôi môi rộp khô vì nắng biển. Nó thổi lại đoạn:
Chơi vơi con thuyền trên sóng không nguôi
Bão bùng xô tới xô lui
Vững tay chèo lái.
Xa xôi hởi người trong viễn phương ơi
Hẹn hò nhau viễn du thôi
Lên đường mãi mãi
Nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ bố, nhớ em, nhớ bạn, nhớ trường, nhớ lớp, nhớ kỷ niệm, nước mắt Chương còm ưá ra vòng xuống mép, thấm môi, ướp tiếng kèn. Chương còm lắc mạnh cây kèn, đưa cánh tay quệt nước mắt. Bọn nhóc không dám vỗ tay. Im lặng. Máy nổ ròn và sóng nhẹ vỗ mạn thuyền.
Giây lát, Liêu rái cá mở miệng:
– Bài hát hay quá.
Bọn nhóc tán tụng:
– Nhờ Chương còm chơi ác-mô-ni-ca.
Chương còm nói:
– Nhờ ông Phạm Duy mới đúng.
Liêu rái cá gật gù:
– Viễn xứ ước thề, xoá hết lối về.. Tuyệt, tuyệt cú mèo! Về làm con khỉ gì nữa.
Chương còm buồn nản:
– Mày không thích về thì kệ mày. Tao, tao phải về, tao thèm về, tao đếch khoái xoá hết lối về.
– Tại sao ?
– Vì tao còn bố tao đang nằm trong khám Chí Hòa, mẹ tao đang bệnh hoạn ở Sàigòn, em tao bị đuổi học, bạn bè tao bị đày về vùng kinh tế mớỉ, thầy tao bị đi lao động cải tạo, trường tao bị đổi tên, cờ nước tao bị kéo xuống, bị chúng nhục mạ cắt xén may quần xà lõn, thành phố của tao bị chúng xoá bỏ, bài hát của tao bị chúng cấm, sách vở của tao bị chúng đốt.. .
– Mày nhắm về nổi không ?
– Tại sao không ?
– Về cách nào ?
– Về bằng đường tim. Nếu trái tim này lúc nào cũng đập nhịp điệu về, về, về thì mày sẽ về. Nếu trái tim mày quên đập nhịp điệu về, về, về, trái tim mày bi mỡ bọc kín thì không bao giờ mày về nổi. Tin tao đi, Liêu thân mến, con người ta sinh ra không phải để đi hoài, đi mãi mà phải có nơi chốn để về. Cái đó gọi là ước mơ. Ước mơ của tao là đi để về quê hương Việt Nam. Bởi vì, rồi mầy sẽ hiểu, chẳng nơi nào đẹp đẽ, ấm áp bằng quê hương mình.
Liêu rái cá ngẩn ngơ nghe Chương còm…triết lý. Cậu bé thuyền chài vùng Phan Thiết, bạn mới của Chương còm, ông nhỏ yêu Chương còm đến độ, bằng mọi cách, đưa Chương còm rời Việt Nam, không đoán nổi tâm tình bạn mình ra sao nữa. Hôm nào, nó năn nỉ mình dẫn nó đi, giờ nó lại nói nó thèm về. Vớ vẩn. Liêu rái cá mỉm cười, ừ ào cho xong chuyện. Bọn nhóc Phan Thiết không có ý kiến gì. Chúng ngồì chờ Chương còm thổi kèn bài khác. Chương còm đã cất harmonica vào túi quần. Chúng thấm lạnh, lần lượt chuồn hết. Liêu rái cá lột cái mũ trên đầu mình, đội lên đầu Chương còm :
– Mày cứ đêm phơi sương, ngày hong nắng, ốm chết là ông làm mồi câu cá, hết về đấy. Mai tao rẽ hướng Tây, chạy miết sẽ đụng đảo.
Liêu rái cá xuống buồng lái. Một mình Chương còm co ro ở nóc thuyền. Ngày mai, thuyền rẽ hướng Tây. Muốn hướng nào, tùy ý mày, Liêu ạ, hướng nào đưa tao vào bờ cũng tốt, càng sớm càng hay, để tao đánh điện báo tin cho mẹ tao mừng, mẹ tao thôi khóc , mẹ tao ăn được, ngủ được, mẹ tao mạnh khoẻ đi nuôi bố tao nằm tù. 
Chương còm chớp mắt lia lịa. Nó đã nhủ nó rằng đừng khóc, khóc vô tích sự, mà nó vẫn muốn khóc. Bố nó, chắc chắn, chưa hề biết tin nó trốn khỏi Việt Nam. Bố đang ngủ hay bố còn thao thức ở xà lim số 10 khu FG Chí Hòa hở bố? Bố đã phiêu lưu từ Hà nội vào Sài Gòn. 
Năm ấy, bố 19 tuổi, một mình, thất học, nghèo nàn. Bố lang thang rày đây mai đó. Bố bị cuộc đời hành hạ mềm nhũn. Nhưng bố đã đứng dậy, đứng thẳng, tự làm đẹp lấy đời bố. Để trà thù cuộc đời. Ôi, cuộc đời sao mà nhiều Thiện Mông Cổ bệ rạc chỉ biết cộp danh thủ bằng những cú đá đố kỵ, hậm hực, ghen tài trên sân cỏ! Bố phải đương đầu mệt mỏi. 
Bây giờ, lại một mình bố, chịu đựng những cú đá vào óc, vào tim của đội bóng tròn Cộng sản đê tiện. Con tin là bố còn đủ sức đứng dậy, đứng thẳng và mỉm cười và tiếp tục dàn xếp những cú ngả bàn đèn làm bàn tuyệt diệu. Ngày xưa, bố cho con đi phiêu lưu từ Sài Gòn xuống Phú Nhuận. Con gặp Hưng mâp. Con dẹp Thiện Mông Cổ. Bố cho con làm lính của vua Quang Trung. Bố cho con đôi tay nhựa, bắt bóng như diễn trò ảo thuật. Trên tất cả, bố cho con cái tên. Cái tên ấy, Chương còm, đã trở thành người bạn ngọc của mấy thế hệ tuổi trẻ Việt Nam. 
Cám ơn bố. Nhờ bố cấy mộng mơ vào tâm hồn con, hôm nay con tự làm một cuộc phiêu lưu mới, cuộc phiêu lưu đích thực không còn giống những cuộc phiêu lưu bay bổng trong tiểu thuyết của bố nữa. Rồi bố sẽ hay tin con dế mèn của bố đã ra đi. Và con đoán, bố sẽ nói với con thế này: Chương còm, cuộc phiêu lưu hai mươi năm trước của bố dễ dàng và ngắn ngủi lắm con ạ! Thế mà bố vẫn bước được những bước khá dài. Bố nghĩ cuộc phiêu lưu của con gian khổ và dài gấp bao nhiêu lần hơn bố, con sẽ bước nổi những bước dài gấp bao nhiêu lần hơn bố! Can đảm lên, chú bé! Phía trước, đầy chông gai, anh dũng bước! Hãy nhớ nỗi đau khổ dạy ta khôn lớn, dạy ta cao thượng, dạy ta yêu người, thương đời.
Chương còm lại nằm thả dài chân, đầu gối lên cái phao. Chiếc mũ che kín mặt, hai tay khoanh trước ngực, Chương còm tìm câu trả lời cho ai hỏi nó: Tại sao mầy làm thuyền nhân?